Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2. Biểu tượng và biểu tượng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết Y. Kawabata Chương 3.
Biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng Chương 4. Biểu tượng nghệ thuật truyền thống 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Kawabata là một trong những nhà văn hiện đại hàng đầu Nhật Bản. Tài năng của ông được ghi nhận qua những phát hiện tinh tế bản chất vẻ đẹp tâm hồn Nhật Bản, thể hiện khát khao gìn gìn truyền thống với “vẻ đẹp nguyên thủy” và những giá trị đẹp đẽ của bản sắc văn hóa dân tộc. Tác phẩm của ông “thực sự trở thành chiếc cầu nối kì diệu đưa nước Nhật vượt đại dương đến với thế giới, và đưa thế giới đến với xứ sở hoa anh đào tươi đẹp” [3,215].
Nghiên cứu tiểu thuyết Y. Kawabata và biểu tƣợng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết Y. Kawabata trên thế giới Trên thế giới, Kawabata và tác phẩm của ông là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu, dưới nhiều góc độ và phương pháp tiếp cận khác nhau. Từ góc độ tiểu sử học Đầu tiên phải kể đến bài The Nobel prize for literature 1968 (Giải Nobel văn học 1968) giới thiệu nhà văn đoạt giải Nobel văn chương của Viện Hàn lâm Thụy Điển do tiến sĩ Anders Osterling đọc tại buổi lễ trao tặng cho Kawabata vào tháng 12 năm 1968.
Bài viết đã khái quát cuộc đời, những bất hạnh mà Kawabata phải nếm trải từ khi còn rất nhỏ và khẳng định những mất mát đó đã có tác động đến thế giới quan của nhà văn. Đặc biệt, Osterling còn chú trọng nhấn mạnh đến bộ ba tiểu thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô: “Người ta đặc biệt ca ngợi Kawabata như một người thấu hiểu một cách tinh tế tâm lí phụ nữ. Ông đã chứng tỏ trình độ bậc thầy của mình ở khía cạnh này trong hai tiểu thuyết Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc. Tác phẩm của Kawabata làm ta nhớ đến hội họa Nhật Bản, ông là kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhiên và thân phận con người” [4,985].
Nhận định trên cho thấy, quan điểm sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, đó là cái đẹp luôn gắn với nỗi buồn. Điều này có cội nguồn từ mĩ học truyền thống Nhật Bản, cái đẹp thường đượm nỗi buồn của thời gian, của kí ức và những trải nghiệm trong đời mỗi người. Tác giả bài viết còn đặc biệt ưu ái tiểu 7 thuyết Cố đô khi đưa ra nhận định: “Thực ra bản thân Kyoto mới là nhân vật chủ đạo, kinh đô của vương quốc xưa”; “tiểu thuyết của ông là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về sự cần thiết phải cố mà giữ lấy cái gì đó của vẻ đẹp và tính độc đáo cổ xưa của nước Nhật” [4,960]. Trong lời tuyên dương của Viện Hàn lâm, còn nhắc tới nghệ thuật tự sự bậc thầy của Kawabata, khi biểu hiện tâm hồn Nhật Bản một cách tinh túy nhất.
Như vậy, vấn đề phản ánh cái Đẹp, cái Buồn và truyền thống cổ xưa thực sự đã là “bản năng” trong sáng tác của Kawabata. Tiếp đến năm 1982, tác giả Mary Jo Moran trong bài Recommended: Yasunari Kawabata (Đề xuất: Kawabata Yasunary) đã quan tâm lí giải những mất mát trong cuộc đời riêng đã ảnh hưởng đến lối viết cùng với sự nhạy cảm hiếm có của nhà văn Kawabata. Bài viết cũng khẳng định: “Kawabata thành công trong việc kết hợp kĩ thuật phương Tây với tinh thần phương Đông để tạo ra những tác phẩm tiểu thuyết tâm lí tuyệt vời”. Tác giả cho rằng, Ngàn cánh hạc, Xứ tuyết là những tiểu thuyết đã “đánh lừa” độc giả bởi những cảm nhận đầu tiên, dung lượng ngắn, ngôn ngữ giản dị, nhưng càng đi sâu khám phá người đọc càng gợi mở được nhiều vấn đề sâu xa: “xuyên qua ngôn ngữ, hình ảnh, Kawabata đã thể hiện trải nghiệm trực quan vượt ra ngoài giới hạn của ngôn từ”; “Phong cách của Kawabata là nghịch lí, đơn giản nhưng sâu sắc, mô tả nhưng gợi mở” [5,75].
Dawn to the West (Bình minh trước phương Tây) của Donald Keene (1984) là một nghiên cứu tương đối công phu về văn học hiện đại Nhật Bản. Riêng mục về Kawabata, được tác giả tập hợp một cách hệ thống, từ tuổi thơ dữ dội đến lúc trưởng thành và cố gắng tìm hiểu, đưa ra đánh giá về cái chết đầy bí ẩn của nhà văn. Đồng thời, tác giả cũng chú trọng đến tìm hiểu những giá trị nổi bật của các tiểu thuyết tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tạo văn chương Kawabata. Tác giả Donald Keene còn chỉ ra cội nguồn văn hóa phương Ðông và những tác động, ảnh hưởng về phương pháp sáng tác, kĩ thuật hiện đại.
của văn hóa phương Tây đến sáng tác của nhà văn. Ông cho rằng, “Kawabata chắc chắn là một tác giả hiện đại, các tác phẩm của ông chỉ liên quan đến những người đương thời. Nhưng giải thưởng Nobel văn chương đã tôn vinh ông vì mối quan hệ đặc biệt của ông được thể hiện qua truyền 8 thống Nhật Bản” [6,807]. Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị, cung cấp nhiều thông tin quý báu cho chúng tôi khi triển khai đề tài nghiên cứu.
Từ góc độ nghiên cứu liên ngành Nhà nghiên cứu Edward G. Seidensticker quan tâm đặc biệt đến nhiều sáng tác của Kawabata. Năm 1968, trong “Lời giới thiệu tiểu thuyết Xứ tuyết” (Snow Country), tác giả từ việc phân tích tác phẩm đã đưa ra nhiều nhận xét thú vị, trong đó chúng tôi chú ý đến đề xuất, “nên xếp Kawabata vào dòng văn chương của những bậc thầy thơ Haiku thế kỉ XVII”. Ông cho rằng: “đề tài mà Kawabata đã chọn cho Xứ tuyết, dễ dàng tạo nên cuộc gặp gỡ, hội ngộ hoàn hảo giữa tiểu thuyết và thơ Haiku” [7,7].
Trong bài Giới thiệu nhà văn đoạt giải Nobel văn chương, Anders Osterling cũng nhấn mạnh đến giá trị bản sắc văn hóa trong sáng tác của Kawabata: “Tác phẩm của Kawabata làm ta nhớ tới hội họa Nhật Bản. nếu sự phù du của mọi hành động bên ngoài có thể so sánh với búi cỏ dật dờ trên mặt nước, ấy chính là tinh túy nghệ thuật cực thiểu của thơ Haiku Nhật Bản phản ánh trong phong cách văn xuôi của Kawabata” [4,958]. Năm 1969, bài giới thiệu về Kawabata của tác giả Edward Seidensticker đăng trên Tạp chí Hudson, một lần nữa đã khẳng định niềm vinh dự của người Nhật với giải thưởng Nobel văn học dành cho Kawabata: “có cả niềm vui lẫn sự bối rối khó hiểu, bởi trước đó không có nhiều tác phẩm của Kawabata được dịch, ông cũng không thực sự thu hút độc giả phương Tây, nhưng có một điều không thể phủ nhận là người ta tìm thấy mối quan hệ giữa Kawabata và những giá trị truyền thống của Nhật Bản” [8,6]. Tính chất truyền thống của văn hóa, văn học Nhật Bản trong sáng tác của nhà văn, ảnh hưởng của Truyện Genji cùng những nỗi buồn ám ảnh từ chính cuộc đời riêng: cô đơn và thất bại trong tình yêu, đã trở thành những chủ đề chính trong tác phẩm Kawabata.
Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, nguồn gốc các sáng tác của Kawabata bắt nguồn từ phương Tây, “những hình ảnh lập dị, sự phân mảnh và sự pha trộn của các giác quan là những thứ rất được coi trọng trong tác phẩm của Kawabata”. Chính nhà văn từng thừa nhận, bị ảnh hưởng bởi phương Tây, bắt 9 chước những nhà văn như James Joyce, nhưng cuối cùng ông vẫn là người con của Nhật Bản, mang đậm cốt cách và tâm hồn của dân tộc. Ở bài viết này, tác giả Edward Seidensticker cũng chú trọng đến việc phân tích, lí giải một số tác phẩm trong sự nghiệp văn chương Kawabata, để khẳng định phong cách sáng tạo và những đóng góp quan trọng của nhà văn cho văn chương Nhật Bản và Thế giới. Cùng năm 1969, trong bài nghiên cứu Kawabata Yasunari: Bridge-Builder to the West (Kawabata - người xây cầu nối phương Tây), tác giả Francis Mathy cũng khẳng định niềm vinh dự, tự hào của văn đàn Nhật trước giải thưởng Nobel văn học của Kawabata: “Nó không chỉ là niềm vui với người đồng hương mà quan trọng là văn học Nhật Bản đã khẳng định được vai trò trong nền văn chương thế giới và mối quan hệ văn hóa phương Đông và phương Tây qua cầu nối bởi những sáng tác độc đáo của Kawabata” [9,214].
Francis Mathy thông qua tìm hiểu tác phẩm, phát hiện và chỉ ra ý nghĩa quan trọng của hệ thống biểu tượng với việc biểu đạt sâu sắc giá trị tư tưởng trong tác phẩm văn học. Tác giả đặc biệt chú ý đến biểu tượng gương soi: “tấm gương trong mặt trăng, dưới mặt nước được sử dụng hiệu quả như là biểu tượng của tình yêu sâu sắc của con người” [9,215]. Tác giả bài viết còn nhấn mạnh, Kawabata là người con của “văn hóa Cố đô”, là người nợ ít nhất với các xu hướng và ảnh hưởng nước ngoài, có nguồn gốc chủ yếu trong quá khứ văn hóa của Nhật Bản. Ông xứng đáng trở thành một đại diện cho nền văn học Nhật Bản với nghệ thuật hoàn hảo đã thể hiện ý thức đạo đức, đóng góp một phần đáng kể, làm cầu nối văn hóa Đông - Tây.
Thông qua hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết, tác giả bài viết còn khẳng định: “Các nhân vật của Kawabata không chỉ là cơ quan ngôn luận của người tạo ra chúng. Họ chắc chắn bày tỏ một phần của anh ta vì nghệ thuật thể hiện một phần của nghệ sĩ, nhưng không nhiều hơn thế” [9,217]. Năm 1983, Katsuhito Takeda đã chỉ ra những dấu ấn đậm nét của tôn giáo trong sáng tác của Kawabata qua bài viết Biblical influence upon Yasunari Kawabata (Ảnh hưởng Kinh thánh đối với Yasunary Kawabata). Tác giả nhấn mạnh: “các tác phẩm của ông được coi là truyền thống thực, nhưng chúng tôi nhận ra rằng chúng có chứa các yếu tố hiện đại.
Kawabata có mối quan tâm sâu sắc đến 10 văn học phương Tây, đặc biệt là văn học thế kỉ XIX và XX và thường sử dụng Kinh thánh trong tác phẩm của mình” [10,97]. Những lời dẫn trực tiếp từ Kinh thánh được tìm thấy ở tất cả các thể loại trong sáng tác của nhà văn. Kinh thánh là chìa khóa không thể thiếu để mở ra cánh cửa cho các tác phẩm của Kawabata. Phát hiện thú vị của công trình nghiên cứu này, đã cung cấp thêm những căn cứ cho chúng tôi khi triển khai một trong những nội dung quan trọng của luận án, đó là tìm hiểu ý nghĩa tôn giáo thông qua giải mã biểu tượng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết của Kawabata.