Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường của tác giả Đỗ Ngọc Thuận, chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Khoa Khoa học Xã hội - Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội (khóa C2016), do Thầy Lê Thời Tân hướng dẫn, tập trung nghiên cứu biện pháp tu từ ẩn dụ trong thi pháp thơ Đường.

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng tác phẩm văn học là nghệ thuật của ngôn từ, nơi người nghệ sĩ gửi gắm tư tưởng, tình cảm một cách kín đáo, tế nhị theo nguyên lý "ý tại ngôn ngoại". Để giải quyết mâu thuẫn giữa lớp vỏ ngôn từ hữu hạn và ý niệm biểu đạt vô hạn, các thi nhân đã gạn lọc những hình ảnh giàu sắc thái biểu tượng thông qua biện pháp tu từ từ vựng, đặc biệt là ẩn dụ. Trong kho tàng văn học Trung Quốc với hơn 48.900 bài thơ được lưu giữ trong Toàn Đường thi, ngôn ngữ thơ ca đã phá vỡ trật tự thông thường để vươn tới cấp độ biểu đạt cao hơn. Mặc dù thơ Đường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở các khía cạnh "cảnh và tình" (Đinh Phan Cẩm Vân, 2011) hay tính chất dồn nén biểu cảm và luật thi (Đào Thái Sơn), nhưng chưa có chuyên luận nào khảo sát một cách hệ thống và chuyên sâu về ẩn dụ trong thơ Đường.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua việc khảo sát một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường, khóa luận làm rõ các kiểu ẩn dụ cũng như sự đóng góp của ngôn từ trong sáng tác thi ca, giúp người đọc hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật độc đáo của các thi nhân đời Đường.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Tập hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến ẩn dụ tu từ học.
    • Khảo sát, phân loại và phân tích tác dụng nghệ thuật của các ẩn dụ tiêu biểu trong các tác phẩm thơ Đường.
    • Rút ra những kết luận về đặc trưng thi pháp và giá trị của phương thức ẩn dụ trong việc xây dựng văn bản nghệ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường và tác dụng nghệ thuật của các ẩn dụ tiêu biểu.
  • Phạm vi khảo sát văn bản: Tập trung vào các thi phẩm tiêu biểu của các tác giả thuộc bốn thời kỳ Đường thi: Trương Cửu Linh (Tự quân chi xuất hĩ), Đỗ Phủ (Nguyệt dạ, Xuân dạ hỉ vũ, hai câu thơ phản ánh hiện thực xã hội), Vương Duy (Y hồ), Đỗ Mục (Khiển hoài, Giang lâu), Vương Xương Linh (Khuê oán), Lý Hạ (Bài dẫn về đàn Không hầu và hệ thống thơ hình tượng thanh kiếm), Lý Thương Ẩn (Vô đề, Cẩm sắt), Lý Bạch (Tĩnh dạ tứ, Tương Dương ca), cùng trích đoạn Trường hận ca của Bạch Cư Dị.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Toàn bộ tiến trình lịch sử thi ca đời Đường kéo dài gần ba thế kỷ (618 – 907) qua bốn giai đoạn: Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường và Vãn Đường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên sự kết hợp giữa ngôn ngữ học tu từ học hiện đại phương Tây, Việt Nam và thi học cổ điển Trung Hoa:

  • Lý thuyết ẩn dụ phương Tây: Kế thừa quan niệm từ thời cổ đại của Aristotle trong The Poetics (Thi pháp học) và The Rhetoric (Tu từ học) về sự dịch chuyển tên gọi dựa trên giống và loài; Cicero với quan niệm ẩn dụ là hình thức rút gọn của so sánh; quan điểm cấu trúc của Ivor Armstrong Richards trong The Philosophy of Rhetoric (1936) gồm hai thành tố "ý nghĩa" (tenor) và "phương tiện biểu lộ" (vehicle); cùng mô hình phân loại 5 dạng thức ẩn dụ của Pierre Fontanier (chuyển đổi giữa các thực thể sinh động, không sinh động, vật lý và trừu tượng).
  • Lý thuyết tu từ học tiếng Việt: Dựa trên các công trình nghiên cứu của Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình (Phong cách học tiếng Việt, 1982), Đinh Trọng Lạc (99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt), Đỗ Hữu Châu, và hệ thống 8 kiểu ẩn dụ từ vựng của Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt).
  • Hệ thống thi học cổ điển phương Đông: Vận dụng phạm trù "Ý tượng" do Lưu Hiệp đề xuất trong chương Thần tứ của công trình Văn tâm điêu long; quan niệm về sự hợp nhất giữa "Tình" và "Cảnh" của Vương Phu Chi trong Tịch đường vĩnh nhật tự luận nội biên; lý thuyết "Cảnh giới" với hai trạng thái "Cảnh có tôi" (hữu ngã chi cảnh) và "Cảnh không có tôi" (vô ngã chi cảnh) của Vương Quốc Duy trong Nhân gian từ thoại; cùng hai thủ pháp tu từ nền tảng "Tỉ" và "Hứng".

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ gồm:

  • Phương pháp hệ thống – cấu trúc
  • Phương pháp loại hình
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu
  • Phương pháp liên ngành (văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học, triết học Đạo gia, Phật giáo)
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp

Nguồn dữ liệu nghiên cứu là các văn bản thơ chữ Hán nguyên tác kèm phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ từ tổng tập Toàn Đường thi cùng các bản dịch của các dịch giả uy tín (Ngô Tất Tố, Tản Đà, Tương Như, Nam Trân, Nguyễn Khắc Phi, Lê Nguyễn Lưu).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 – Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phép ẩn dụ từ lịch sử nghiên cứu đến các mô hình phân loại:

  • Lịch sử nghiên cứu và khái niệm ẩn dụ: Thuật ngữ ẩn dụ (metaphor) bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ métaphore và tiếng Hy Lạp cổ metaphora mang nghĩa dịch chuyển (transfer). Tác giả khái lược dòng chảy nghiên cứu từ Aristotle, Cicero, qua Thomas Hobbes, John Locke, Richard Whately, George Campbell, Hegel, I.A. Richards đến các nhà ngôn ngữ học Việt Nam. Bản chất của ẩn dụ được xác định là sự định danh thứ hai mang tính hình tượng, chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm và đồng nhất hóa các nét tương đồng giữa hai đối tượng.
  • Các phương pháp phân loại và các kiểu ẩn dụ:
    • Ba phương pháp phân loại thông dụng: dùng truyện ngụ ngôn, dùng cách nói lái, và dùng tục ngữ.
    • Phân loại 5 hình thức ẩn dụ của Pierre Fontanier: (1) Sự vật sinh động $\rightarrow$ sự vật sinh động khác; (2) Sự vật trừu tượng $\rightarrow$ sự vật vật lý không sinh động; (3) Sự vật sinh động $\rightarrow$ sự vật không sinh động; (4) Sự vật vật lý không sinh động $\rightarrow$ sự vật vật lý sinh động (ẩn dụ vật lý); (5) Sự vật trừu tượng $\rightarrow$ sự vật sinh động (ẩn dụ tinh thần).
    • Tám kiểu ẩn dụ của Nguyễn Thiện Giáp: ẩn dụ hình thức, ẩn dụ chuyển tính chất, ẩn dụ thuộc tính/tính chất, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ đặc điểm dáng vẻ bên ngoài, ẩn dụ màu sắc, ẩn dụ chuyển tên gọi con vật thành người, và ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng.

Chương 2 – Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường

Chương 2 là phần trọng tâm của công trình, tập trung phân tích thi pháp thơ Đường và giải mã các hệ thống ẩn dụ:

  • Khái quát lịch sử và diện mạo thơ Đường: Khái quát tiến trình phát triển qua bốn thời kỳ gắn liền với các biến cố chính trị - xã hội:

    • Sơ Đường (618 – 713): Giai đoạn thái bình, thơ văn hoa mỹ; tiêu biểu là nhóm "Sơ Đường Tứ kiệt" (Dương Quýnh, Lư Chiểu Lân, Lạc Tân Vương, Vương Bột).
    • Thịnh Đường (714 – 766): Đỉnh cao thi ca, phân hóa sau biến loạn An Lộc Sơn (755) với ba phái: Biên tái, Điền viên, Xã hội.
    • Trung Đường (766 – 835): Triều đình suy thoái, nổi bật với nhóm "Đại Lịch thập tài tử" (Lư Luân, Tiền Khởi, Lý Đoan,...).
    • Vãn Đường (835 – 907): Giai đoạn sụp đổ với khởi nghĩa Hoàng Sào; tiêu biểu là Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Ôn Đình Quân.
    • Khắc họa chân dung bốn gương mặt thi nhân tạo nên hiện tượng hội tụ đỉnh cao "Thánh – Tiên – Phật – Quỷ": Thi Phật Vương Duy (thanh tịnh Thiền tông, thi trung hữu họa), Thi Tiên Lý Bạch (phóng khoáng Đạo giáo, tài hoa trác việt), Thi Thánh Đỗ Phủ (hiện thực nghiêm trang, bậc thầy luật thi), và Thi Quỷ Lý Hạ (tài hoa đoản mệnh, phong cách ma quái, kì dị).
  • Phương pháp phân loại ẩn dụ trong thơ Đường:

    • Ẩn dụ theo phép "Tỉ": Vận động theo chiều Chủ thể $\rightarrow$ Khách thể (từ tâm trạng, ý niệm của con người chiếu ứng vào tự nhiên). Dẫn chứng qua bài Tự quân chi xuất hĩ của Trương Cửu Linh: hình ảnh vầng trăng khuyết dần qua từng đêm (dạ dạ giảm thanh huy) ẩn dụ trực tiếp cho sự hao mòn thể xác và nỗi nhớ thương dồn nén của người phụ nữ chờ chồng.
    • Ẩn dụ theo phép "Hứng": Vận động theo chiều Khách thể $\rightarrow$ Chủ thể (từ hình ảnh khách quan của thế giới tự nhiên khơi gợi cảm xúc bên trong con người). Dẫn chứng qua bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch: hình ảnh ánh trăng đầu giường ngỡ sương mặt đất (nghi thị địa thượng sương) dẫn đến hành động ngẩng đầu rồi cúi đầu nhớ cố hương (đê đầu tư cố hương).
  • Các kiểu ẩn dụ cụ thể trong thơ Đường:

    • Ẩn dụ ý tượng: Các hình ảnh được tái tạo nghĩa hoàn toàn mới trong cấu trúc văn bản. Phân tích bài Nguyệt dạ của Đỗ Phủ với sự hòa quyện giữa "mái tóc mây ẩm sương thơm" và "cánh tay ngọc lạnh dưới ánh trăng" để biểu đạt khát vọng vượt qua rào cản chia cách do chiến tranh; phân tích cặp câu thơ tố cáo xã hội đối lập đa chiều: "Chu môn tửu nhục xú / Lộ hữu đống tử cốt" (Cửa đỏ rượu thịt rữa / Đường rải rác xương chết rét - đối lập bên trong/bên ngoài, sống/chết, đỏ/trắng); phân tích nghệ thuật dùng tên riêng Cẩm Quan thành trong bài Xuân dạ hỉ vũ và ẩn dụ hai tầng Nga Mi trong Trường hận ca của Bạch Cư Dị.
    • Ẩn dụ theo quy ước: Khai thác các biểu tượng văn hóa truyền thống đã được định ước xã hội thừa nhận. Khảo sát Y hồ của Vương Duy (núi xanh - mây trắng tượng trưng cho quan hệ nam - nữ, âm - dương); Tương Dương ca của Lý Bạch (mây mưa Vu Sơn gợi tình ái); Khiển hoài của Đỗ Mục (lưng Sở, mộng Dương Châu); Giang lâu của Đỗ Mục (mây trôi, đàn chim nhạn bay qua sông gợi sự trôi dạt và nhớ quê); Khuê oán của Vương Xương Linh (màu cành dương liễu đầu đường đánh thức nỗi hối hận vì để chồng đi tòng quân tìm tước hầu).
  • Khảo sát hệ thống ẩn dụ ở các tác giả tiêu biểu:

    • Lý Hạ: Khám phá vũ trụ thơ kì dị với kho ngụ ngôn động vật (rồng, rắn chín đầu, thằn lằn, sói tuyết) và các ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (hoa nhỏ lệ bằng máu, kiếm biết kêu, chân của sương). Hình tượng thanh kiếm mang bốn tầng ẩn dụ: sinh thực khí nam, cái chết, sự thách thức trật tự siêu nhiên (giết rồng), và sự biến hóa. Phân tích kiệt tác Bài dẫn về đàn Không hầu (Lý Bằng không hầu dẫn): giải mã mạng lưới ẩn dụ thần thoại (Nữ Oa vá trời, Tử Hoàng, Ngô Chất, thỏ ngọc, ngọc Côn Sơn vỡ), các biểu tượng tính dục (nhạc cụ thân cây, giống đực - giống cái) và cấu trúc số học vũ trụ (12 hàng hiên/địa chi, 23 dây đàn/sự thiếu hụt so với 28 chòm sao).
    • Lý Thương Ẩn: Phong cách biểu tượng đa tầng trên trục không - thời gian. Phân tích bài Vô đề với các ẩn dụ đồng âm và liên tưởng chuyển dịch: tơ (ti) $\leftrightarrow$ thương nhớ (tư), tơ đen $\leftrightarrow$ mái tóc, tro (khôi) $\leftrightarrow$ lòng tan nát (tâm khôi), nến tàn nhỏ lệ, chim xanh Bồng Lai; phân tích bài Cẩm sắt (Đàn gấm) với cây đàn 50 dây tượng trưng 50 năm đời người, cấu trúc cú pháp đảo ngược thuận nghịch giữa Trang Sinh hóa bướm và Thục Vọng đế hóa đỗ quyên khạc máu, cùng vòng lặp biến dịch hoán dụ giữa biển trăng ngọc trai và Lam Điền khói ngọc.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa các dạng thức ẩn dụ tiêu biểu trong văn bản thơ Đường thông qua bảng đối chiếu sau:

Thi nhân Tác phẩm tiêu biểu Hình ảnh / Ý tượng ẩn dụ Kiểu ẩn dụ & Cơ chế tu từ Ý nghĩa biểu đạt & Tác dụng nghệ thuật
Trương Cửu Linh Tự quân chi xuất hĩ Vầng trăng tròn rồi khuyết (mãn nguyệt / giảm thanh huy) Ẩn dụ theo phép Tỉ (Chủ thể $\rightarrow$ Khách thể) Biểu thị sự sum họp viên mãn và nỗi nhớ nhung làm hao mòn thể xác người phụ nữ
Lý Bạch Tĩnh dạ tứ Ánh trăng sáng / sương đất (minh nguyệt quang / địa thượng sương) Ẩn dụ theo phép Hứng (Khách thể $\rightarrow$ Chủ thể) Cảnh trăng khuya đánh thức trực tiếp nỗi nhớ cố hương của lữ khách tha hương
Đỗ Phủ Nguyệt dạ Tóc mây đẫm sương thơm, tay ngọc lạnh ánh trăng Ẩn dụ ý tượng (Sáng tạo cấu trúc) Biến ý tượng thành hành vi giao cảm, vượt qua không gian giam cầm thời loạn lạc
Đỗ Phủ Câu thơ thế sự Cửa đỏ rượu thịt rữa / đường rải xương chết rét Ẩn dụ ý tượng (Tương phản đối lập) Tố cáo bất công giai cấp qua các trục đối lập: trong/ngoài, sống/chết, đỏ/trắng
Vương Duy Y hồ Núi xanh cuộn mây trắng (thanh sơn quyển bạch vân) Ẩn dụ quy ước (Hệ thống biểu tượng Âm - Dương) Khắc họa sự quyến luyến, tình cảm hòa quyện sâu kín giữa vợ và chồng lúc chia tay
Vương Xương Linh Khuê oán Màu dương liễu đầu đường (mạch đầu dương liễu sắc) Ẩn dụ quy ước (Phong tục bẻ liễu biệt ly) Thức tỉnh nhận thức của người thiếu phụ phòng khuê về bi kịch chia ly thời tuổi trẻ
Lý Hạ Lý Bằng không hầu dẫn Ngọc vỡ, phượng kêu, mây đọng, Nữ Oa vá trời, Ngô Chất Ẩn dụ ý tượng ma ảo & Mạng lưới thần thoại Tái hiện sức mạnh huyền diệu của âm nhạc làm lay động trần thế và cõi siêu nhiên
Lý Thương Ẩn Vô đề, Cẩm sắt Tằm nhả tơ, nến nhỏ lệ, Trang Chu mộng điệp, ngọc Lam Điền Ẩn dụ ý tượng đa tầng & Biểu tượng thuận nghịch Diễn tả bi kịch tình yêu dang dở, sự giằng xé nội tâm và triết lý biến dịch nhân sinh

Về mặt đóng góp học thuật, công trình đạt được các kết quả cụ thể:

  • Đóng góp về mặt lí luận: Khóa luận làm sáng tỏ cơ chế vận hành của ẩn dụ trong việc xây dựng văn bản nghệ thuật cổ điển, chứng minh ẩn dụ không chỉ là thao tác thay thế từ vựng đơn thuần mà là một phương thức tư duy cấu trúc hóa thế giới, nối liền thế giới chủ quan của nhà thơ với khách thể tự nhiên.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Công trình mở ra con đường tiếp cận tác phẩm thơ Đường từ cấp độ ngôn từ và vi mô thi pháp; cung cấp tư liệu và phương pháp luận hữu ích cho việc tìm hiểu, học tập và giảng dạy thơ ca cổ điển Trung Quốc trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông và đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Hạn chế: Do giới hạn quy mô của một khóa luận tốt nghiệp đại học, công trình mới chỉ khảo sát chuyên sâu trên các văn bản của 8 tác giả tiêu biểu (Trương Cửu Linh, Đỗ Phủ, Vương Duy, Lý Bạch, Lý Hạ, Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Vương Xương Linh) cùng trích đoạn của Bạch Cư Dị, chưa thể bao quát toàn diện diện mạo của 48.900 bài trong Toàn Đường thi. Việc đối chiếu thi pháp ẩn dụ thơ Đường với thơ ca trung đại Việt Nam chưa được triển khai thành chương mục riêng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát phép ẩn dụ trên diện rộng các trường phái thi ca khác của thời Đường (như phái Thơ triết lý Hàn Dũ, Giả Đảo thời Trung Đường); mở rộng so sánh liên văn hóa giữa ẩn dụ thơ Đường với ẩn dụ trong thơ Nôm và thơ chữ Hán trung đại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu học thuật có giá trị thiết thực đối với:

  • Đối tượng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Văn học và Đông phương học/Hán Nôm; giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông.
  • Nội dung tham khảo nổi bật:
    • Phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết tu từ học liên ngành Đông - Tây (kết nối lý thuyết của Aristotle, Pierre Fontanier, Nguyễn Thiện Giáp với thi học Lưu Hiệp, Vương Phu Chi, Vương Quốc Duy).
    • Phương pháp phân tích văn bản thi pháp học chi tiết đối với các tác phẩm phức vi, đa tầng nghĩa như Bài dẫn về đàn Không hầu của Lý Hạ và Cẩm sắt, Vô đề của Lý Thương Ẩn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt cơ chế tạo nghĩa giữa phép "Tỉ" và phép "Hứng" trong thơ Đường như thế nào?
Tác giả phân biệt dựa trên chiều vận động của tư duy nghệ thuật: Phép "Tỉ" là quá trình vận động từ Chủ thể $\rightarrow$ Khách thể (nhà thơ dùng hình ảnh thiên nhiên để mô tả trực tiếp ý niệm, tình cảm chủ quan của con người, gần với bản chất của ẩn dụ so sánh). Ngược lại, phép "Hứng" là quá trình đi từ Khách thể $\rightarrow$ Chủ thể (yếu tố cảm tính của ngoại cảnh tác động, khơi gợi cảm xúc, kỉ niệm thầm kín bên trong thi nhân, gần với bản chất của hoán dụ kế cận).

2. Hình tượng "thanh kiếm" trong thế giới nghệ thuật của Lý Hạ được giải mã mang những tầng nghĩa ẩn dụ nào?
Dưới ngòi bút của Lý Hạ, hình tượng thanh kiếm vượt ra ngoài ý nghĩa hiệp sĩ thông thường để mang 4 tầng nghĩa ẩn dụ sâu sắc: (1) Biểu tượng cho sinh thực khí của nam giới theo quan niệm Đạo giáo; (2) Tượng trưng cho cái chết (vật thế mạng cho thể xác bất động của người chết); (3) Sự thách thức trật tự siêu nhiên (hành vi giết rồng); và (4) Biểu tượng cho sự biến hóa vũ trụ (thanh kiếm tự thân hóa thành rồng).

3. Điển tích Trang Tử và Vọng đế trong bài Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn được phân tích dưới góc độ ngữ pháp như thế nào?
Tác giả khóa luận chỉ ra rằng hai câu thơ có cấu trúc đối ngẫu đồng dạng. Do việc tỉnh lược các yếu tố bổ ngữ sau hai ngoại động từ mê (mê muội/hóa) và thác (gửi gắm), cấu trúc câu từ quan hệ một chiều $A \rightarrow B$ đã chuyển thành quan hệ thuận nghịch hai chiều $A \leftrightarrow B$ (Trang Sinh mơ hóa bướm hoặc bướm mơ hóa Trang Sinh; Vọng đế biến thành đỗ quyên hoặc đỗ quyên biến thành lòng Vọng đế), biểu thị sự xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, nhân sinh và tạo hóa.

4. Khóa luận phân biệt "ẩn dụ ý tượng" và "ẩn dụ theo quy ước" dựa trên tiêu chí nào?
Sự phân biệt dựa trên tính sáng tạo và nguồn gốc của nghĩa biểu đạt: "Ẩn dụ quy ước" dựa trên những hình ảnh đời thường có tính quy ước xã hội rộng rãi từ trước (như bẻ cành dương liễu là chia ly, mây mưa là giao hợp, núi xanh - mây trắng là quan hệ âm dương); trong khi "Ẩn dụ ý tượng" là những kết hợp ngôn từ mới lạ, phi quy ước, chỉ được sản sinh trong cấu trúc thẩm mỹ cụ thể của bài thơ (như tóc mây đẫm sương thơm, cánh tay ngọc lạnh ánh trăng trong thơ Đỗ Phủ).

5. Ẩn dụ địa danh "Cẩm Quan thành" trong bài thơ Xuân dạ hỉ vũ của Đỗ Phủ có hàm ý gì?
Cẩm Quan thành vừa là tên gọi hành chính khác của thành phố Thành Đô (nơi Đỗ Phủ chứng kiến cơn mưa xuân), vừa mang nghĩa chiết tự là "Ông quan mặc áo gấm". Ẩn dụ này ngụ ý rằng chính bản thân nhà thơ (một viên quan đang sống cảnh lưu vong nghèo khó) cũng tìm thấy niềm vui sướng, hân hoan khi được hòa mình vào ngày tiết đổi mới của mùa xuân.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường của tác giả Đỗ Ngọc Thuận là một công trình nghiên cứu thi pháp học nghiêm túc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận tu từ học hiện đại và thi học cổ điển phương Đông. Thông qua việc phân loại và giải mã hệ thống ẩn dụ theo hai nhánh "tỉ - hứng" và "ý tượng - quy ước", tác giả đã làm sáng tỏ chiều sâu biểu đạt và cấu trúc ngôn từ tinh diệu của các thi nhân tiêu biểu đời Đường. Công trình không chỉ khẳng định bản chất sáng tạo của phương thức ẩn dụ trong việc xây dựng văn bản nghệ thuật mà còn mang lại giá trị tham khảo thực tiễn rõ rệt cho công tác học tập và giảng dạy văn học cổ điển.