CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm ẩn dụ 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ẩn dụ Ẩn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cổ đại. Ẩn là bí mật, là giấu giếm; dụ là tương tự, ví von.
Hiểu theo cách đơn giản, ẩn dụ có nghĩa là so sánh ngầm. 9 Ẩn dụ, tiếng Anh là metaphor, xuất phát từ métaphore – một tiếng Pháp cổ thế kỉ thứ XVI; và từ này lại xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ metaphora, có nghĩa là dịch chuyển (transfer). Ẩn dụ là sự dịch chuyển ý nghĩa từ hạn từ này sang hạn từ khác, dựa trên một yếu tố tương tự nào đó. Đó là một cách nói bóng bẩy, trong đó, một điều được ví von với một điều khác bằng cách nói “cái này là cái kia”.
Từ rất sớm trong tư tưởng Hy Lạp, ẩn dụ đã phát triển rực rỡ qua huyền thoại và thi ca. Aristotle được xem như là người đầu tiên trong lịch sử đề cập đến ẩn dụ, ông cho rằng triết lý cần ẩn dụ để tăng cường thêm cho luận cứ và nhằm thuyết phục người khác. Vào thời Trung Cổ, quan điểm về ẩn dụ có hai khía cạnh: ẩn dụ là tốt khi dùng trong Thánh Kinh và xấu khi lạm dụng để ngụy trang những điều phản chân lý. Thời hiện đại cũng xuất hiện rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ.
Thomas Hobbes (1588 - 1679) là người đầu tiên mở ra cuộc tấn công trực diện vào ẩn dụ. Sau Thomas Hobbes, ta có thể kể đến John Locke, Richard Whately, George Campbell, Hegel,. Về cấu trúc của ẩn dụ, theo Ivor Armstrong Richards trong cuốn The Philosophy of Rhetoric (Tu từ học) (1936), bao gồm hai phần: “ “ý nghĩa” và “phương tiện biểu lộ”. Ý nghĩa là điều ẩn chứa bên trong chủ thể còn phương tiện là thứ mà chủ thể dùng để truyền tải ý nghĩa”.
Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cổ đại thì ẩn dụ được thể hiện qua cách chỉ sự ví von và thường ẩn chứa trong lời khởi đầu của các bài ca dao dân ca. 10 Ở Việt Nam, ẩn dụ đã được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều. Ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú,. Hiểu theo cách đơn giản thì đây là một hình thái trong văn nói hay một cụm từ được dùng để thể hiện một cụm từ khác có cùng hoặc gần sắc thái nghĩa.
Lối ẩn dụ này được sử dụng thường xuyên trong văn học – đặc biệt là thơ – một bài viết có ít từ vựng, nơi mà cảm xúc và những ý tứ trong nó lại được dùng để liên tưởng đến những vật hay đặc tính trong bài khác. Nó so sánh hai sự vật mà không dùng những cụm từ hoặc từ “như”, “như là”, “giống như”. Khác với lối so sánh, lối ẩn dụ đạt tới một mức độ cao hơn. Thay vì yêu cầu chúng ta mô tả một sự vật, hiện tượng một cách thông thường, lối ẩn dụ yêu cầu ta mô tả một sự vật, hiện tượng mà lại lấy hình ảnh của một sự vật, hiện tượng khác 1.
Một số quan niệm về phép ẩn dụ Từ thời cổ đại, Aristotle đã thảo luận về ẩn dụ trong hai tác phẩm The Poetics (Thi pháp học) và The Rhetoric (Tu từ học). Ông cho rằng: “Ẩn dụ có nghĩa là quy cho sự vật nào đó một cái tên mà tên này thuộc về một sự vật khác, sự dịch chuyển có thể hoặc là giống (genus) thay cho loại (species), hoặc loại thay cho giống, hoặc là loại thay cho loại, hoặc dựa trên nền tảng của sự tương tự”. Ẩn dụ trong Aristotle đứng giữa hai lĩnh vực: tu từ học và thơ. Cũng như Aristotle, Cicero bàn về ẩn dụ theo văn phong hơn là theo diễn ngôn có ý nghĩa.
Ông xem ẩn dụ là “một hình thức rút gọn của so sánh, cô đọng vào trong một chữ; chữ này được đặt vào một vị trí không thuộc về nó y như thể đó là vị trí riêng của nó và nếu nó được thừa nhận là mang lại điều khoái trá nhưng nếu nó không chứa đựng sự tương tự thì nó bị bác bỏ”. 11 Ở Việt Nam, khái niệm ẩn dụ được các nhà nghiên cứu trình bày theo nhiều cách khác nhau: Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt của Cù Đình Tú - Lê Anh Hiền - Nguyễn Thái Hoà – Võ Bình (1982) khái niệm được định nghĩa: “Ẩn dụ là cách lấy tên gọi của đối tượng này để lâm thời biểu thị một đối tượng khác trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng”. Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A”. Trên cơ sở những quan điểm về ẩn dụ nêu trên, ta có thể hiểu như sau: Ẩn dụ là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có nét tương đồng hay giống nhau.
Bản chất của ẩn dụ là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng, tính chất khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra ở chúng ít nhất có cùng một nét hay một đặc điểm nào đó. Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ 1. Phương pháp phân loại ẩn dụ 1. Cách phân loại thứ nhất: dùng truyện ngụ ngôn: là cách sử dụng các câu truyện để truyền đạt ý nghĩa 1.
Cách phân loại thứ hai: dùng cách nói lái: là cách pha trộn các lối ẩn dụ do tự nghĩ ra hoặc tình cờ dùng sai phép tu từ 1. Cách phân loại thứ ba: dùng tục ngữ: là một lối dùng tu từ khá nâng cao, bằng cách dùng một số câu thơ, vè,. để dạy hoặc truyền đạt một bài học ý nghĩa. Các kiểu ẩn dụ 12 1.
Các hình thức ẩn dụ theo Pierre Fontanier Theo Pierre Fontanier, ẩn dụ là: “Trình bày một ý tưởng dưới kí hiệu của một ý tưởng khác sinh động hơn hay được biết nhiều hơn, mà ý tưởng này lại chẳng có một liên hệ nào với ý tưởng đầu tiên ngoài liên hệ của một sự giống nhau hay tương tự nào đó”. Pierre Fontanier rút gọn thành năm loại ẩn dụ: 1. Loại ẩn dụ thứ nhất: Trình bày một sự vật sinh động bằng một sự vật sinh động khác; nghĩa là chuyển đến một sự vật sinh động cái vốn là đặc điểm của một sự vật sinh động khác. Ví dụ: Cô ấy là một con mèo.
→ Chuyển ý nghĩa (hiền lành) của con mèo (một sự vật sinh động) đến cho con người (một sự vật sinh động khác); ý nói “cô ấy” hiền lành như “con mèo”. Loại ẩn dụ thứ hai: Trình bày một sự vật trừu tượng bằng một sự vật lý không sinh động. Ví dụ: Những bông hoa của cuộc sống. → Chuyển ý nghĩa “con người tốt đẹp” chứa đựng trong “những bông hoa” là sự vật vật lý không sinh động đến “cuộc sống” là một sự vật không sinh động có tính cách trừu tượng.
Loại ẩn dụ thứ ba: Trình bày một sự vật sinh động bằng một sự vật không sinh động. Ví dụ: Cậu bé này là mầm non của đất nước. → Dùng “mầm non” là sự vật không sinh động để chỉ “cậu bé” - một con người là sự vật sinh động. Loại ẩn dụ thứ tư: Trình bày một sự vật vật lý không sinh động bằng một sự vật vật lý sinh động.
Là loại ẩn dụ qua đó, người ta nói về một sự vật không sinh động có tính cách vật lý bằng một cái thường để chỉ một sự vật sinh động. Ví dụ: Dày vò bởi lòng hối hận. → Dùng “lòng hối hận” là những điều bất động có tính cách vật lý được trình bày như sự vật sinh động: “dày vò”. Vì cả hai đều thuộc về thế giới vật lý, Pierre Fontanier gọi đây là “ẩn dụ vật lý”.
Loại ẩn dụ thứ năm: Trình bày một sự vật trừu tượng bằng một sự vật sinh động. Là loại ẩn dụ qua đó, người ta nói về một sự vật không sinh động có tính cách tinh thần bằng một cái vốn được dùng để nói về sự vật sinh động, có tính cách trí tuệ và tự do. Ví dụ: Kinh nghiệm là bậc thầy của nghệ thuật. → “Bậc thầy” là sự vật sinh động (có tính cách tinh thần) để chỉ sự vật trừu tượng là “kinh nghiệm”.
Vì cả hai yếu tố đều có tính cách trừu tượng, thuộc về tinh thần nên Pierre Fontaniet gọi đây là những “ẩn dụ tinh thần”. Các kiểu ẩn dụ theo Nguyễn Thiện Giáp Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đưa ra tám kiểu ẩn dụ như sau: 1. Ẩn dụ hình thức: là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật. Ví dụ: vì mũi là một bộ phận cơ thể con người có đặc điểm nhọn, nhô ra nên phần đất nhô ra còn được gọi là mũi đất.
Ẩn dụ chuyển tính chất của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác 14 Ví dụ: Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu (Ông đồ - Vũ Đình Liên) 3. Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó Ví dụ: Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm (Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ) Sự giống nhau về phẩm chất là Người Cha, đang ẩn dụ cho Bác Hồ. Bác đang chăm lo cho giấc ngủ của các chiến sĩ như người cha ruột đang chăm lo cho các đứa con của mình. Ẩn dụ chức năng Ví dụ: bến trong bến xe, bến đò, bến sông → tất cả các từ này đều thể hiện chức năng giống nhau là đầu mối giao thông.
Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài Ví dụ: Người phụ nữ đẹp được gọi là Tây Thi. Ẩn dụ màu sắc Ví dụ: màu cánh sen – màu hồng như màu của cánh sen 7. Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người. Ví dụ: cún con của mẹ, cún con của cha.
Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng Ví dụ: hạt nhãn là cái cụ thể để chỉ phần bên trong của quả được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của vấn đề. Trên đây là cách phân loại ẩn dụ của một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học.