mở đầu của tập Thơ Dâng, tập thơ mà ông muốn dâng cho đời, cho con người. Và cũng bởi yêu cuộc sống, nhà thơ Tagore yêu cả cái chết. Chết là một qui luật không ai tránh khỏi, cho nên không cần phải sợ sệt, lo lắng, hoảng hốt trước cái chết. Con người cần bình thản, ung dung bước vào cõi chết như đi trên chiếc cầu bắc qua sông, từ bờ này sang bờ khác.
Trước khi bước vào cõi chết, phải tự xem mình đã làm được gì cho cuộc đời và để lại cái gì mình đã có và làm ra: “Sẽ có một ngày ngày tử thần đến rõ cửa anh Anh sẽ có món chi làm tặng vật ? trước vị khách đến thăm, tôi sẽ đặt cái li rượu tràn đầy cuộc sống tôi dâng tôi đâu chịu để khách về với những tay không tôi sẽ đặt, cuộc đời tôi tất cả khi tử thần tới đây và rõ cửa”. (Bài thơ số 90- tập Thơ Dâng) Nếu không có trách nhiệm với cuộc đời thì cũng khó mà có một thái độ đúng đắn về lẽ sống, chết như vậy. Lòng ưu ái phụ nữ Người phụ nữ Ấn Độ cũng có những nỗi đau khổ giống như phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Họ là loại người bị chà đạp nhân phẩm triền miên qua nhiều chế độ.
Tagore rất quan tâm đến số phận phụ nữ Ấn Độ và biểu lộ lòng ưu ái sâu sắc. Ông đã dành nhiều trang thơ ca ngợi họ. Trước hết Tagore tìm thấy ở phụ nữ Ấn một sắc đẹp tự nhiên, được đất trời tô thắm và được bàn tay con người tô vẽ thêm: “Không chỉ riêng thượng đế đã thêu dệt nên nàng mà cả loài người nữa Nhà thơ dùng sợi vàng dệt nên hình dáng nàng họa sĩ tô đường nét cho nàng đẹp vạn đời” (Người làm vườn, 1914) Phụ nữ chẳng những chỉ đẹp hình dáng bên ngoài mà còn đẹp cả trong tâm hồn nữa. Tagore thấy “lòng người phụ nữ là ngai vàng”[1;67] như trong truyện ngắn Minu mà ông tả.
Tagore thương xót những người phụ nữ đẹp cả sắc và tình nhưng không được hạnh phúc xứng đáng. Cuộc đời họ cũng giống như một cô gái mù: “Một buổi sáng trong vườn hoa có một cô gái mù đến tặng tôi một vòng hoa bọc kín trong lá sen. Tôi quàng vòng hoa vào cổ, nước mắt rưng rưng. Tôi hôn nàng và nói: Nàng mù đúng lúc những bông hoa nở, chính nàng cũng không rõ quà tặng của mình đẹp biết chừng nào” (Bài thơ số 58-tập Người làm vườn) Thơ Tagore giàu tính triết lý, “cô gái mù” cần được hiểu là những người phụ nữ vô tư không tự biết mình đã đem cho mọi người bao nhiêu vẻ đẹp và niềm hạnh phúc.
Cuộc đời người phụ nữ Ấn Độ bị kìm hãm bởi cái vòng xiềng đeo ở chân và chiếc khăn trùm mặt, bị ngăn cách giao tiếp với mọi người …Cuộc đời họ cần được giải phóng- đó là nguyện vọng, là tình cảm, là mối quan tâm hàng đầu của nhà nhân đạo chủ nghĩa Tagore Bài “Nữ quyền” viết năm 1928 có thể xem là “chiến lệnh”, là lời kêu gọi giục giã phụ nữ Ấn Độ xông ra chiến trường nhằm thẳng số mệnh, nhằm thẳng xiềng xích mà đập phá, giành lấy tự do nữ quyền: “Không đời nào ta lẩn trốn vào buồng đâu với đôi kiềng chân rụt rè kêu lẻng xẻng trong bóng tối âm u Không, ta hiên ngang xông pha vào chốn hiểm nghèo đầy tuyệt vọng của tình yêu trong bể cồn cuộn sóng; Nơi bão tố cuồn say giật ngay cái khăn trùm lên mặt ta là phận héo hon của đàn bà và giữa tiếng chim bể rùng rợn, nhức nhói giọng ta truyền chiến lệnh vang vang: anh là của riêng em.” Đó là “chiến lệnh”của hàng triệu phụ nữ Ấn Độ giành tự do cho tình yêu, hôn nhân, gia đình và tự do trong xã hội. Tagore không chỉ đấu tranh cho phụ nữ bằng thơ văn mà bằng cả hành động thiết thực của mình nữa. Khi Gandhi đề xướng cuộc vận động giải phóng phụ nữ và tầng lớp cùng đinh thì Tagore nhiệt tình ủng hộ ngay. Qua tập thơ ngắn Patataca, ông phê phán xã hội khắc nghiệt đối với phụ nữ nông thôn, đòi hủy bỏ tục tảo hôn, xóa bỏ chế độ phân biệt đẳng cấp, đòi tự do hôn nhân.
Bài thơ Raida người phu quét rát bẩn thể hiện chủ trương nam nữ tự do yêu đương và hôn nhân không kể đẳng cấp, giàu nghèo, sang hèn và lên án lễ giáo Bà la môn: Nàng công chúa yêu người phu quét rát bẩn. Thầy tu Bà la môn kết tội nàng vi phạm lễ giáo. Nàng kiên quyết bảo vệ tự do và công lí: “Thầy tu cứ kêu ngạo thắt dây nữa đi cho thỏa thích, thắt bao nhiêu nút nữa cũng vô ích. Thầy cứ việc chà xát trái tim khắc khổ của thầy nữa đi.
Còn tôi, người con gái hành khất, tôi vẫn sung sướng nhận của yêu, nhận quà dính bụi của chồng tôi là người phu quét rát”. Tagore tích cực đóng góp tiếng nói nghệ thuật vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ bằng trái tim, bằng lòng yêu thương thắm thiết của nhà thơ: “Hãy lấy tình thương và từ thiện bao la mà tẩy sạch bao hoen mờ trong lòng trái đất” 2. Thơ Tagore về tình yêu nam nữ Thơ tình yêu chiếm một vị trí quan trọng trong sáng tác của Tagore. Thơ tình Tagore thể hiện một quan niệm yêu đương đúng đắn và tiến bộ.
Nhà thơ cho rằng tình yêu là một nhân tính thiêng liêng. Con người, ai cũng phải yêu, vì đó là hạnh phúc, là nhu cầu của sự sống, cần thiết như ánh lửa và mặt trời vậy. Những kẻ nói không cần tình yêu là kẻ giả dối. Tình yêu đã từng lung lay biết bao trái tim kẻ theo chủ nghĩa khổ hạnh, từng thề thốt không bao giờ yêu và căm ghét tình yêu.
Nhà thơ cảm thấy thỏa mãn là suốt đời đã từng yêu và mong muốn cuối cùng là được nói lên điều đó trước khi bước vào cõi chết: Cõi đời ơi khi tôi đã chết rồi thì trong cõi vắng lặng của người chỉ một lời náy còn lại “tôi đã từng yêu” Tình yêu trong thơ Tagore không có cái dung tục tầm thường, không phải thứ tình yêu rầu rĩ, rên xiết, cũng không quá cao siêu, lí tưởng. Tagore tìm sự hòa hợp giữa hai tâm hồn và tự do trong tình yêu. “Trái tim anh là con chim quen sống cảnh hoang vu đã tìm được nơi mắt em khung trời của nó” Nhưng không dễ dàng tìm được tình yêu hòa hợp tâm hồn và sự tự do trong tình yêu “trái tim anh cũng ở gần em như chính đời anh vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết chọn nó đâu!” Trong tình yêu nam nữ không hiểu nhau còn vì “những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu”. Nhà thơ cho rằng trong tình yêu sắc đẹp thể xác giống như bông hồng chóng tàn phai, chỉ có tâm hồn đẹp mới bền lâu “Tôi muốn nắm trong tay sắc đẹp của nàng Nhưng nó cứ thoát ra Và trong tay tôi chỉ còn thân thể Tôi đã mõi mệt quay về thất vọng Ôi thân thể làm sao chạm được đền bông hoa Tagore không giống các nhà thơ tình lãng mạn khác.
Tình yêu tuy đau khổ nhưng không chịu khóc than rên xiết hoặc hủy hoại thân mình mà vẫn giữ lấy niềm tin tưởng “Hãy tin tưởng ở tình yêu Dù nó có đem sầu muộn đến Đừng đóng kín tình anh” Và cũng vì: “Tôi biết rằng cuộc đời này Dù không chín rộ trong tình yêu Cũng không phải mất đi tất cả” 2. Tình yêu hòa bình và tinh thần chống chiến tranh Tagore đã chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới. Đất nước Ấn Độ cũng là nạn nhân của hai cuộc chiến ấy. Thực dân vơ vét người và của cải Ấn Độ ném vào hai lò lửa ấy.
Nhân dân Ấn Độ chịu bao nhiêu thảm họa. Khát vọng hòa bình, nổi căm giận chiến tranh đế quốc của Tagore được phản ánh trong thơ một cách nồng nhiệt Năm 1939, sau khi bọn phát xít phát động cuộc chiến tranh thế giới lần hai, Tagore viết bài thơ “Luồng phá hoại mù quáng cuồng điên”. Bài thơ đó được xem như bản tuyên ngôn gửi các dân tộc nhỏ bé bị nô lệ, kêu gọi họ đoàn kết, đấu tranh ngăn chặn cuộc chiến tranh tàn bạo này Hãy đến đây các dân tộc trẻ trung Hãy tuyên bố đấu tranh giành tự do trở lại Hãy giương cao ngọn cờ của lòng tin không ai lay chuyển nổi Hãy lấy đời mình bắc những chiếc cầu tiếp nối Qua những vực hằn thù trong lòng đất thẳm sâu Và cùng nhau tiến tới Trong đoạn kết thúc bài thơ về hòa bình trong tập “Cánh thiên nga”(A flight of swans) Tagore tuyên bố: “Ta có thể biến đời ta cho lòng tin tưởng Hòa bình là có thực Lòng từ thiện là có thực Sự hòa hợp muôn đời là có thực” Đó là lý tưởng cao đẹp của nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại Tagore. Tình yêu thương trẻ em Hầu như nhà thơ lớn nào cũng vậy, đều dành cho trẻ em những bài thơ hay để ca ngợi và khuyên bảo các em, mong mỏi các em phát huy và giữ gìn bản chất ngây thơ tốt đẹp để phục vụ tổ quốc và xã hội.
Các nhà văn thế giới từ Gorki, Lỗ Tấn, Victor Hugo, Liev Tolstoi…đến Hồ Chí Minh đều có tác phẩm hay viết về trẻ em. Tagore viết thơ cho trẻ nhỏ xuất phát từ tình cảm chân thành của một người ông, người cha, người thầy. Tagore yêu mến và tin tưởng vào tương lai các em và nhắc nhở mọi người hãy giữ chân- thiện- mỹ trong trẻ nhỏ. Tagore làm thơ cho trẻ em trong một hoàn cảnh buồn đau khi hai con ông lần lượt chết.
Tập Sisu viết năm 1909, đến năm 1915 được dịch ra Anh văn là The crescent moon (Trăng lưỡi liềm, Trăng non hoặc Trẻ thơ). Tagore chú trọng ca ngợi tính hồn nhiên, trung thực và vô tư của thiếu nhi. Đứa trẻ nào cũng vậy, thích hòa mình với thiên nhiên, thích vui đùa cùng cái thế giới bao la ấy. “Bọn trẻ gặp nhau trên bến bờ những thế giới vô biên Giông tố gặp nhau trên bầu trời không một lối đi Thuyền bè đắm trên nước không dấu vết Cái chết ở ngoài kia, nhưng lũ trẻ vẫn đùa chơi Trên bến bờ những thế giới vô biên Là hội lớn của bầy con trẻ” (Trên bờ biển) Nói về tính chất thật thà trung thực của trẻ em, Tagore kể lại câu chuyện sau đây thật cảm động.
Một chú bé không cha đến xin học với đạo sĩ Bà la môn. Đạo sĩ hỏi em ở đẳng cấp nào, nếu thuộc dẳng cấp Bá la môn mới được ngồi học chung với trò cùng đẳng cấp đó.