Chương 1. Giới thiệu tổng quan về tỉnh Bình Thuận Chương 2. Khung lý thuyết và phương pháp luận Chương 3. Mô tả dự án titanium và du lịch.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chương 4. Phân tích lợi ích – chi phí. - Phân tích tài chính dự án - Phân tích kinh tế - xã hội - Phân tích hiệu quả sử dụng đất và nguồn tài nguyên khác. Kết luận và khuyến nghị chính sách.
Giới thiệu tổng quan về tỉnh Bình Thuận. Với bờ biển dài 192 km, trung tâm hành chính (Phan Thiết) chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh 198 km (mất từ 3 – 5 giờ để di chuyển), Bình Thuận có nhiều lợi thế trong việc phát triển kinh tế biển và du lịch (năm 2009, Mũi Né được Tạp chí Du lịch quốc tế bình chọn là một trong 20 điểm du lịch biển nổi tiếng trên thế giới). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 – 2009 đạt khoảng 12,24%, trong đó ngành nông nghiệp tăng 6,8%/năm, ngành công nghiệp – xây dựng tăng 16,8%/năm và ngành dịch vụ 13,85%/năm. Tăng trưởng GDP và 3 nhóm ngành chủ lực tỉnh Bình Thuận từ 1999 – 2009.
Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận (2009) Tăng trưởng của Bình Thuận chịu ảnh hưởng lớn từ sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó năm 2005 và 2008 giá trị GDP có sự gia tăng đột biến là do có tính toán các khoản giá trị gia tăng lớn từ dầu khí và các công trình thủy điện (Đại Ninh, Hàm Thuận – Đa Mi) trên địa bàn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong hơn một thập kỷ qua cho thấy các nhà hoạch định chính sách ở Bình Thuận theo đuổi mục tiêu tăng dần tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1998 – 2009.
Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận (2009) Theo số liệu của Cục Thống kê Bình Thuận, trong vòng hơn 10 năm qua, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 48,7% năm 1998 xuống còn 28,4% năm 2009. Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 20,8% năm 1998 lên gần gấp đôi, tức là khoảng 37,4% năm 2009; ngành dịch vụ tăng nhẹ từ 30,6% năm 1998 lên khoảng 34,1% năm 2009. Ngành công nghiệp – xây dựng và ngành dịch vụ là hai ngành có đóng góp quan trọng đến tính ổn định nền kinh tế của Bình Thuận. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu ngành công nghiệp năm 2008 cho thấy, giá trị đóng góp của ngành khai thác quặng kim loại (chủ yếu là titanium) là rất nhỏ (chiếm chỉ 0,6% tổng giá trị).
Trong đó khi đó, giá trị đóng góp của ngành du lịch chiếm tỷ trọng khá lớn (16%) trong toàn ngành dịch vụ, chỉ sau ngành thương nghiệp (25,7%). Ngành du lịch phát triển, kéo theo các ngành dịch vụ phụ trợ khác cùng phát triển. So với các tỉnh ven biển miền Trung (Bảng A.1, phụ lục A), Bình Thuận có ưu thế vượt trội hơn các tỉnh còn lại về tiềm năng du lịch (ngoài Khánh Hòa), và có tiềm năng lớn về trữ lượng titanium. Tuy nhiên, lợi thế về titanium và du lịch cùng phân bố trên cùng địa bàn ven biển nên có sự xung đột trong sự phát triển.
Do vậy, việc xem xét các yếu tố để đánh giá, lựa chọn ưu tiên để phát triển là cần thiết cho sự phát triển kinh tế ổn định của Bình Thuận. Chất lượng tăng trưởng kinh tế của Bình Thuận giai đoạn 2005 – 2009. Tăng trưởng kinh tế cao luôn là mục tiêu và tiêu chí đánh giá hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách ở tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nóng (bình quân trên 10% mỗi năm) tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn đó là liệu việc sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nguyên) có tương xứng với tốc độ phát triển hay không? Có nhiều tiêu chí đánh giá nền kinh tế, tuy nhiên các tiêu chí về hiệu quả sử dụng vốn (ICOR), đánh giá tính bình đẳng trong thu nhập (GINI) và tổng năng suất các nhân tố (TFP) là các tiêu chí được lựa chọn để đánh giá tổng thể tính hiệu quả và ổn định của tỉnh Bình Thuận.
Nhìn từ góc độ hiệu quả sử dụng vốn. Tốc độ tăng trưởng GDP của Bình Thuận tăng bình quân 10,44% giai đoạn 1999 – 2004 và bình quân hàng năm tăng 13,08% giai đoạn 2005 – 2009. Tuy nhiên, liên quan đến chất lượng tăng trưởng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế đang có chiều hướng kém hiệu quả, đặc biệt là hệ số ICOR trong năm 2009 rất cao, tức là để đạt được 1 điểm tăng trưởng GDP cần bỏ vốn đầu tư 5,2 lần. Hay nói cách khác, cái giá mà tỉnh Bình Thuận đang bỏ ra cho tăng trưởng kinh tế ngày càng đắt đi một cách tương đối.
Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP. ĐVT: triệu đồng Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Vốn đầu tư (giá cố định) 1.385 Trong đó: - Công nghiệp khai khoáng 21.335 + Tỷ trọng (%) 1,23 1,23 0,93 0,74 1,05 - Khách sạn - Nhà hàng 280.186 Tốc độ tăng GDP (gY%) 25,4 13,9 12,1 16,2 10,1 Trong đó: - Công nghiệp khai khoáng 45.527 + Tốc độ tăng khai khoáng (%) 18,6 15,1 16,0 14,8 - Khách sạn - Nhà hàng 208.065 + Tốc độ tăng du lịch (%) 19,3 15,2 20,7 15,4 Tỷ trọng I/GDP (%) 40,7 39,6 37,7 39,9 52,6 Trong đó: - Công nghiệp khai khoáng 46,9 43,7 30,7 25,6 46,5 - Khách sạn - Nhà hàng 134,8 125,1 124,7 129,1 183,4 ICOR cả tỉnh 1,6 2,8 3,1 2,5 5,2 Trong đó: - Công nghiệp khai khoáng 2,3 2,0 1,6 3,1 - Khách sạn - Nhà hàng 6,5 8,2 6,2 11,9 Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận (2009) và có tính toán của tác giả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 So sánh ngành công nghiệp khai khoáng và ngành du lịch (khách sạn – nhà hàng) cho thấy hệ số ICOR ngành du lịch cao hơn nhiều so với ICOR của ngành công nghiệp khai khoáng3. Như vậy, liệu ngành công nghiệp khai khoáng có sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn ngành du lịch như số liệu tính toán? Hay số vốn đầu tư của ngành khai khoáng chưa được tính đầy đủ trong số liệu thống kê? Hiệu quả sử dụng vốn qua hệ số ICOR của ngành titanium và ngành du lịch sẽ được đề cập ở phần phân tích lợi ích – chi phí của đề tài4.
Nhìn từ góc độ phân phối thu nhập. Một trong tiêu chí đánh giá phát triển bền vững của nền kinh tế đó là đo lường khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục tăng cao trong nhiều năm qua đã làm cho đời sống của người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm, nhưng chỉ số bất bình đẳng về thu nhập (GINI) ở Bình Thuận vẫn còn cao, và đang có xu hướng gia tăng qua các năm (hệ số Gini năm 2008 của Bình Thuận là 0,27; năm 2009 là 0,3 và năm 2010 là 3,4). Hệ số đo lường bất bình đẳng trong thu nhập (GINI) từ 2004 - 2010.
Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 GINI Bình Thuận 0,30 0,29 0,27 0,30 0,34 GINI Việt Nam 0,41 0,42 Tỷ lệ Nhóm 5/Nhóm 1 5,147 5,030 4,306 5,295 6,425 Tỷ lệ (Nhóm 1 + Nhóm 2)/5 Nhóm 20,49 20,68 22,07 20,19 18,24 Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận (2010) có tính toán của tác giả. 100% Theo số liệu thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất (nhóm 5) so với % nhóm 20% thấp nhất (Nhóm 1) của tỉnh Bình Thuận cộng Đường 450 dồn của A năm 2004 là 5,1 lần, năm 2006 là 5,0 lần, năm 2008 là thu nhập B 4,3 lần, năm 2009 là 5,2 lần, năm 2010 là 6,4 lần. Trong Đường cong Lorenz của tỉnh Bình Thuận 14 năm, hệ số chênh lệch tăng lên 2,05 lần. 2010 100% Một chỉ số khác để đo khoảng cách giàu nghèo trong xã 0 % cộng dồn của dân số 3 Kết quả chỉ mang tính chất tham khảo dựa trên tính toán từ số liệu của Cục Thống kê Bình Thuận, có thể không phản ánh đúng bản chất của cả 2 ngành, đặc biệt là ngành du lịch với đặc thù đầu tư phân tán, khó có thể có số liệu chính xác về thu nhập các doanh nghiệp du lịch.
4 Tham khảo Mục 5.5, Chương 5 - Phân tích hiệu quả vốn đầu tư - của đề tài này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hội là tỷ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm 1 và nhóm 2) trong tổng thu nhập (của cả 5 nhóm). Theo quy ước mà Bộ Tài chính hiện đang sử dụng5, nếu tỷ trọng này nhỏ hơn hay bằng 12% thì bất bình đẳng là cao; nằm trong khoảng 12 - 17%, là bất bình đẳng vừa; nếu lớn hơn hay bằng 17% là tương đối bình đẳng. Theo số liệu thống kê cho thấy, tỷ trọng này của Bình Thuận từ năm 2004 đến 2008 giao động khoảng từ 20 - 22%, năm 2009 là 20,1% và năm 2010 là 18,2%.
Trong các năm qua, sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ trên địa bàn tỉnh là tương đối bình đẳng nhưng đang có xu hướng tiến dần về bất bình đẳng vừa. Riêng năm 2010, ước tính có 20% dân số giàu nhất của tỉnh Bình Thuận nắm giữ gần 42% tổng tài sản của cả tỉnh, trong khi 20% dân số nghèo nhất chỉ nắm giữ khoảng 7% tài sản của cả tỉnh. Khoảng cách giàu nghèo tuy không phải là chỉ tiêu kinh tế nhưng đây là chỉ số tham khảo sự gắn kết giữa kinh tế và xã hội, đồng thời cũng là phép thử của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Nhìn từ góc độ phân tích TFP.
Trong giai đoạn 5 năm 2005 – 2009, tăng trưởng GDP của Bình Thuận luôn được duy trì ở mức cao và được duy trì trên 10% mỗi năm. Mức tăng trưởng của vốn (K) luôn ở mức cao và hơn nhiều so với mức tăng của lao động (L) cho thấy K luôn có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh Bình Thuận. Tốc độ tăng vốn, lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp giai đoạn 2005 – 2009 Tốc độ tăng (%) Hệ số đóng góp Tốc độ tăng GDP do Năm GDP 94 Tăng K Tăng L gTFP(%) gY K gK L gL α β (triệu đồng) (αg K) (βgL) Tốc độ tăng các nhân tố tổng hợp (TFP) của tỉnh Bình Thuận 2005 4.650 3,03 0,21 0,79 5,33 2,40 2,37 Tốc độ tăng các nhân tố tổng hợp (TFP) của ngành du lịch 2005 208.