Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác tiềm năng phát triển du lịch ven biển Tiền Hải - Thái Bình" do sinh viên Phạm Thị Sim (lớp VH901) thực hiện, thuộc chuyên ngành Văn hóa - Du lịch. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán phát triển kinh tế du lịch tại một địa phương thuần nông ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Hồng.

  • Lý do chọn đề tài: Du lịch biển là loại hình du lịch phát triển sớm và thu hút lượng khách lớn nhất với các mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên cứu. Thái Bình nằm ở vùng phụ cận tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước, lưu giữ nhiều nghệ thuật truyền thống như chèo, múa rối nước, hát văn, hát trống cơm. Trong đó, huyện Tiền Hải sở hữu 23 km đường bờ biển, được bao bọc bởi các cửa sông lớn (Ba Lạt, Cửa Lân, Trà Lý), có các bãi biển Đồng Châu, Cồn Vành, Cồn Thủ, cùng nguồn mỏ khí đốt và nước khoáng thiên nhiên. Đặc biệt, vùng đất ngập nước Tiền Hải thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng (được UNESCO công nhận ngày 02 tháng 12 năm 2004). Dù giàu tài nguyên, hoạt động du lịch tại đây vẫn ở dạng tiềm năng, chưa được đầu tư khai thác tương xứng.
  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu thực tế nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trên địa bàn huyện Tiền Hải.
    2. Đánh giá hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ hoạt động phát triển du lịch tại địa phương.
    3. Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả các sản phẩm du lịch, phát huy tối đa tiềm năng sẵn có.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng tài nguyên và hoạt động khai thác du lịch ven biển.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn ven biển huyện Tiền Hải, trọng tâm là khu du lịch biển Đồng Châu và khu vực Cồn Vành.
    • Phạm vi thời gian: Dữ liệu hiện trạng giai đoạn 2001 - 2008, định hướng phát triển giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành và văn bản pháp lý hiện hành tại thời điểm thực hiện đề tài:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Khái niệm du lịch: Trích dẫn định nghĩa từ cuốn "Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ thăm quan" của tác giả Belarus, định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và định nghĩa theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2006.
    • Khách du lịch và khu du lịch: Phân loại khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế; tiếp cận khái niệm khu du lịch của các nhà khoa học Trung Quốc và quy chuẩn theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2006.
    • Tài nguyên và sản phẩm du lịch: Phân định tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật) và nhân văn (di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề, phong tục). Tác giả làm rõ các đặc tính của sản phẩm du lịch: tính vô hình, không dịch chuyển được, không cất trữ/tồn kho, được tạo ra từ nhiều ngành và mang tính thời vụ cao.
    • Lý luận du lịch biển: Định nghĩa loại hình du lịch biển gắn với cảnh quan biển đảo, đại dương; chỉ rõ đặc thù phụ thuộc vào tự nhiên và tính thời vụ sâu sắc.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    1. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa lý thuyết về kinh tế du lịch, xử lý số liệu báo cáo ngành.
    2. Phương pháp thực địa: Khảo sát hiện trường tại các bãi biển Đồng Châu, Cồn Vành, các làng nghề và di tích trên địa bàn Tiền Hải.
    3. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Khai thác văn bản quản lý, quy hoạch chi tiết và số liệu thống kê địa phương.
  • Nguồn dữ liệu: Niên giám thống kê huyện Tiền Hải, báo cáo của Sở Thương mại - Du lịch Thái Bình, dữ liệu quy hoạch của Phòng Địa chính huyện Tiền Hải, các quyết định quy hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình và báo cáo khảo sát đa dạng sinh học của Tổ chức BirdLife Quốc tế tại Việt Nam (giai đoạn 11/2005 - 03/2006).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và làm rõ mối tương quan giữa du lịch với sự phát triển kinh tế - xã hội:

  • Các yếu tố tác động đến du lịch: Tác giả phân tích 8 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển du lịch gồm: dân cư và lao động, điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu nghỉ ngơi giải trí, quỹ thời gian rỗi, trình độ dân trí, điều kiện sống và quá trình đô thị hóa, chính sách phát triển du lịch của nhà nước, cùng yếu tố an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
  • Chức năng của hoạt động du lịch: Làm rõ 4 chức năng cốt lõi: chức năng xã hội (tạo việc làm, nâng cao thể lực, bảo tồn truyền thống), chức năng kinh tế (tăng thu ngân sách, chuyển dịch cơ cấu ngành, kích cầu sản xuất tại chỗ), chức năng môi trường (bảo tồn di sản tự nhiên, thúc đẩy nâng cấp hạ tầng) và chức năng chính trị (tăng cường hòa bình, hữu nghị).
  • Đặc điểm và xu hướng du lịch biển: Phân tích ưu thế thu hút khách đông đảo của du lịch biển kết hợp sinh thái ven bờ, đồng thời chỉ ra hai rào cản lớn: tính thời vụ (quá tải vào mùa hè, vắng khách vào mùa đông) và sự phụ thuộc nghiêm trọng vào thời tiết, thiên tai.
  • Đóng góp thực tiễn tại Thái Bình và Tiền Hải: Báo cáo từ Sở Thương mại - Du lịch Thái Bình cho thấy số lao động trực tiếp trong ngành du lịch của tỉnh tăng từ 475 người (năm 2001) lên 807 người (năm 2004). Đối với Tiền Hải, du lịch bắt đầu tạo cơ hội giao lưu kinh tế, mở rộng quan hệ với các địa phương lân cận.

Chương 2: Hiện trạng khai thác các tiềm năng phát triển du lịch ven biển Tiền Hải - Thái Bình

Chương 2 trình bày chi tiết về tài nguyên, hạ tầng và số liệu khai thác du lịch tại địa phương:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tiền Hải được thành lập năm 1828 từ công cuộc khai hoang lấn biển của Nguyễn Công Trứ. Huyện có diện tích tự nhiên 225,8 km², dân số trên 222.000 người (không có đồng bào dân tộc thiểu số), gồm 1 thị trấn và 34 xã. Mật độ dân số trung bình 921 người/km². Toàn huyện có 74 doanh nghiệp hoạt động, 2 cụm công nghiệp tập trung (Trà Lý và Cửa Lân với diện tích gần 70 ha); giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 đạt hơn 874 triệu đồng (tăng 25% so với năm 2007). Ngành thủy sản là mũi nhọn với giá trị năm 2008 đạt 194 tỷ đồng, sản lượng nuôi trồng và đánh bắt đạt 27.840 tấn. Hạ tầng giao thông gồm Quốc lộ 39B, Tỉnh lộ Đồng Châu, Tỉnh lộ 221A (tổng chiều dài 49,5 km), hệ thống đường huyện dài 79,6 km và 22 cây cầu lớn nhỏ.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên:
    • Địa hình và phân khu bờ biển: 23 km bờ biển chia làm 3 khu vực: phía Nam cửa sông Hồng (dải cồn cát vòng cung dài 15 km, cao 2 - 3,2 m), phía Bắc cửa Trà Lý (bãi phẳng chiều cạn rộng 3.000 ha) và khu vực trung tâm dài 7 km phía ngoài cống Lân. Toàn vùng có 45.000 ha đất ngập nước sát chân đê biển.
    • Điểm đến Đồng Châu và Cồn Vành: Bãi biển Đồng Châu (xã Đông Minh) cách thành phố Thái Bình 30 km, bãi cát phẳng dài 5 km. Cồn Vành rộng gần 2.000 ha là bãi sa bồi hoang sơ, có hệ thống rừng ngập mặn sú, vẹt, phi lao với trên 200 loài hải sản giá trị và nhiều loài chim quý.
    • Khu bảo tồn thiên nhiên và Dự trữ sinh quyển thế giới Đồng bằng sông Hồng: Tổng diện tích toàn khu dự trữ sinh quyển hơn 105.000 ha (vùng lõi >14.000 ha, vùng đệm ~37.000 ha, vùng chuyển tiếp >54.000 ha). Tiền Hải đóng góp 4.000 ha vùng lõi (gồm 3.000 ha nội địa, 1.000 ha biển), 9.000 ha vùng đệm và 13.000 ha vùng chuyển tiếp. Riêng Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải rộng 25.500 ha chia làm 4 phân khu: vùng lõi (9.000 ha), vùng phục hồi sinh thái (8.000 ha tại Cồn Vành), vùng khai thác bền vững (1.500 ha) và vùng khai thác tích cực (1.300 ha).
    • Khí hậu và tài nguyên nước: Nhiệt độ trung bình năm 20 - 23°C (cao nhất 39°C, thấp nhất 4°C); lượng mưa 1.500 - 2.000 mm; độ ẩm 82 - 90%; số giờ nắng 1.600 - 1.800 giờ/năm. Trữ lượng nước khoáng Brôm tự nhiên khoảng 10.000 m³ ở độ sâu 450 m, hiện diện tại 3 giếng: giếng 82A (xã Tây Ninh), giếng 61 và giếng 73 (xã Đông Cơ).
    • Động thực vật: Có 33 loài cá; tôm rảo (chiếm 50%) và tôm bộp (chiếm 40%) ở độ sâu 30 m ngoài khơi; 37 loài động vật đáy thuộc 4 lớp; 955 ha đất rừng trồng ven biển có chức năng phòng hộ.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Toàn huyện có 13 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Mỗi năm diễn ra 77 lễ hội (45 lễ hội truyền thống, 17 lễ hội cách mạng, 15 lễ hội tôn giáo; 42 lễ hội mở vào mùa xuân, 31 lễ hội vào mùa thu; 68 hội làng, 9 hội vùng). Huyện có 27 làng nghề thủ công: dệt chiếu (sản lượng gần 400.000 chiếc/năm tại An Hạ, Lũ Phong, Phương Trạch, An Nhân); làm nón (trên 300.000 chiếc/năm tại Nam Hà, Nam Chính, Bắc Hải); sản xuất muối Đông Minh (hơn 6.000 tấn/năm trên 100 ha); đan mây tre tại Vân Trường, chế biến đay gai tại Tây An, Tây Giang.
  • Thực trạng khai thác và dự án quy hoạch:
    • Lưu lượng khách và doanh thu: Lượng khách nội địa tăng từ 45.650 lượt (năm 2004) lên 90.784 lượt (năm 2008). Khách quốc tế còn rất ít, thời gian lưu trú ngắn (khoảng 1/2 ngày). Doanh thu du lịch năm 2004 đạt 4.341 triệu đồng; mức chi tiêu bình quân thấp (khoảng 180.000 đồng/lượt khách); cơ cấu doanh thu gồm 40% từ lưu trú buồng ngủ, 60% từ ăn uống và dịch vụ khác, doanh thu lữ hành bằng 0%. Toàn huyện có 17 cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ), trong đó chỉ có 2 khách sạn lớn tại ngã ba Trái Diêm: Làng Việt (25 phòng) và Trung - Việt - Thái (30 phòng).
    • Quy hoạch khu phố biển Đồng Châu: Phê duyệt theo Quyết định số 1258/QĐ-UBND ngày 08/6/2007 với quy mô 105 ha, tổng mức đầu tư 700 tỷ đồng (năm 2007 bố trí 27 tỷ đồng).
    • Quy hoạch khu du lịch sinh thái Cồn Vành: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình phê duyệt năm 2008 với tổng diện tích 1.690 ha, chia làm 12 phân khu chức năng (trung tâm đón tiếp 29,85 ha; nghỉ dưỡng 125,82 ha; ở kết hợp dịch vụ 18,66 ha; vui chơi giải trí 96,33 ha; thể thao sân golf 182,52 ha; cây xanh công cộng/TDTT 174,70 ha; văn hóa tổng hợp 98,06 ha; bãi tắm 55,06 ha; quân sự 2,67 ha; rừng trồng kết hợp nuôi trồng thủy sản 422,04 ha; giao thông 57,95 ha; mặt nước 441,54 ha). Đã hoàn thành 6 km đường giao thông bê tông chuẩn quốc gia ra Cồn Vành.
  • Đánh giá chung: Tác giả chỉ rõ các thành tựu bước đầu về hạ tầng và lượng khách, song nhấn mạnh các hạn chế: nước biển phù sa đục không trong xanh, tài nguyên tại Đồng Châu xuống cấp, sản phẩm du lịch nghèo nàn, thiếu dịch vụ bổ trợ (thể thao, giải trí, mua sắm), thiếu hệ thống thu gom xử lý rác thải và nhân lực phục vụ du lịch phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn.

Chương 3: Phương pháp và giải pháp

Chương 3 trình bày các định hướng của tỉnh Thái Bình và đề xuất giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2010 - 2015:

  • Mục tiêu phát triển du lịch Thái Bình giai đoạn 2010 - 2015: Năm 2010 phấn đấu đón 10.000 lượt khách quốc tế và 450.000 lượt khách nội địa; đến năm 2015 đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân 19,2%/năm (tăng 4,5 lần so với năm 2005). Toàn tỉnh xây dựng 1 khu du lịch tổng hợp tại thành phố Thái Bình và 3 khu du lịch chuyên đề (khu nghỉ dưỡng Đồng Châu, khu sinh thái Cồn Vành, khu sinh thái rừng ngập mặn Cồn Đen - Thụy Trường). Chỉ tiêu buồng phòng đạt 1.500 phòng khách sạn (đến năm 2020 đạt 2.500 phòng, trong đó 30 - 40% đạt chuẩn từ 3 sao trở lên).
  • Định hướng tổ chức không gian theo 5 tuyến/trục chính:
    1. Tuyến Quốc lộ 10 (thị xã Thái Bình đi Hải Phòng): Khai thác du lịch nghỉ dưỡng, hội thảo, thể thao, tham quan di tích.
    2. Tuyến thị xã Thái Bình đi Đồng Châu và vùng phụ cận: Trọng tâm khai thác du lịch biển kết hợp du lịch làng nghề.
    3. Tuyến thị xã Thái Bình đi Diêm Điền: Gắn với cảng Diêm Điền, phát triển du lịch sinh thái rừng ngập mặn và văn hóa lễ hội.
    4. Tuyến thị xã Thái Bình đi Hưng Hà theo Quốc lộ 39B: Tập trung nghiên cứu di tích lịch sử văn hóa, danh thắng và làng nghề.
    5. Tuyến đường sông dọc sông Hồng: Kết nối Hà Nội - Hưng Yên - Thái Bình qua làng vườn Bách Thuận và di tích Chùa Keo.
  • Định hướng đầu tư và quản lý: Tạo điều kiện bình đẳng cho các thành phần kinh tế; tập trung vốn ngân sách và xã hội hóa để cải tạo hạ tầng giao thông, nâng cấp các di tích cấp quốc gia (đền Đồng Bằng, đền Tiên La, chùa Keo, khu di tích Nhà Trần); mở các lớp đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân lực ngành du lịch tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống chỉ tiêu thực tế phản ánh toàn diện hoạt động du lịch huyện Tiền Hải:

Chỉ tiêu thống kê Năm 2004 Năm 2007 Năm 2008
Lượng khách du lịch nội địa (lượt) 45.650 72.051 90.784
Doanh thu du lịch huyện Tiền Hải (triệu đồng) 4.341 - Tăng gấp 3 lần năm 2004
Doanh thu du lịch toàn tỉnh Thái Bình (tỷ đồng) - - 96 (năm 2005: 56)
Tổng số cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ) - - 17 cơ sở
Chi tiêu bình quân trên một lượt khách (đồng) - - ~180.000
Cơ cấu doanh thu buồng ngủ lưu trú (%) - - 40
Cơ cấu doanh thu ăn uống và dịch vụ khác (%) - - 60
Tỷ trọng doanh thu lữ hành (%) 0 0 0

Nghiên cứu có các đóng góp cụ thể:

  • Xác lập bức tranh tổng thể về tài nguyên du lịch sinh thái đất ngập nước ven biển Tiền Hải sau khi được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.
  • Thống kê chi tiết hiện trạng các cơ sở lưu trú, hệ thống giao thông, làng nghề và lễ hội truyền thống làm cơ sở dữ liệu thực tiễn cho ngành du lịch địa phương.
  • Hệ thống hóa các chỉ số kỹ thuật quy hoạch của hai dự án trọng điểm: Khu phố biển Đồng Châu (105 ha) và Khu du lịch sinh thái Cồn Vành (1.690 ha).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả chỉ sử dụng các số liệu thống kê thứ cấp đến năm 2008; bảng số liệu thống kê du lịch huyện Tiền Hải trong văn bản còn khuyết một số ô dữ liệu doanh thu chi tiết qua các năm. Đề tài chưa thực hiện điều tra xã hội học bằng bảng hỏi định lượng đối với du khách nhằm đo lường mức độ hài lòng hoặc hành vi chi tiêu thực tế.
  • Hướng mở rộng: Cần theo dõi tiến độ triển khai thực tế của các dự án quy hoạch Đồng Châu và Cồn Vành sau năm 2008; khảo sát đánh giá tác động môi trường của việc nuôi trồng thủy sản đối với vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển; nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù liên kết tuyến biển Tiền Hải với Cồn Đen (Thái Thụy) và Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định).

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Địa lý kinh tế và cán bộ làm công tác quản lý văn hóa - du lịch cấp huyện/tỉnh.

Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là hệ thống số liệu phân vùng Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (tỷ lệ diện tích vùng lõi, vùng đệm, vùng chuyển tiếp tại Tiền Hải), bảng cơ cấu sử dụng đất chi tiết 12 phân khu dự án Cồn Vành, cùng danh mục phân loại 77 lễ hội và 27 làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Tiền Hải.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng bằng sông Hồng trên địa bàn huyện Tiền Hải có diện tích và cơ cấu phân vùng như thế nào?
Toàn khu dự trữ sinh quyển có quy mô trên 105.000 ha. Trong đó, phần diện tích thuộc huyện Tiền Hải gồm: vùng lõi 4.000 ha (chiếm 28,368% vùng lõi toàn khu, gồm 3.000 ha nội địa và 1.000 ha biển); vùng đệm 9.000 ha (chiếm 24,559%); vùng chuyển tiếp 13.000 ha (chiếm 23,835%).

2. Quy hoạch Khu du lịch sinh thái Cồn Vành năm 2008 gồm những phân khu chức năng lớn nào?
Dự án có tổng diện tích quy hoạch 1.690 ha với 12 phân khu chức năng: Trung tâm đón tiếp, quản lý (29,85 ha); Khu du lịch nghỉ dưỡng (125,82 ha); Khu ở kết hợp dịch vụ (18,66 ha); Khu vui chơi giải trí (96,33 ha); Sân golf (182,52 ha); Cây xanh TDTT (174,70 ha); Khu văn hóa tổng hợp (98,06 ha); Bãi tắm (55,06 ha); Khu quân sự (2,67 ha); Rừng trồng kết hợp nuôi thủy sản (422,04 ha); Giao thông (57,95 ha); Mặt nước (441,54 ha).

3. Khóa luận ghi nhận Tiền Hải có những tiềm năng nước khoáng tự nhiên nào phục vụ du lịch chữa bệnh?
Huyện có mỏ nước khoáng Brôm nằm ở độ sâu 450 m với trữ lượng dự tính khoảng 10.000 m³, hiện đang được khai thác qua 3 giếng khoan: giếng số 82A tại xã Tây Ninh, giếng số 61 và giếng số 73 tại xã Đông Cơ.

4. Đặc điểm thị trường khách và cơ cấu doanh thu du lịch Tiền Hải giai đoạn 2004 - 2008 ra sao?
Lượng khách chủ yếu là khách nội địa (chiếm đa số tuyệt đối, năm 2008 đạt 90.784 lượt khách), khách quốc tế lưu trú rất ngắn (khoảng nửa ngày). Chi tiêu bình quân đạt khoảng 180.000 đồng/lượt; trong cơ cấu nguồn thu, dịch vụ buồng ngủ chiếm 40%, ăn uống và các dịch vụ khác chiếm 60%, mảng lữ hành hoàn toàn chưa phát sinh doanh thu.

5. Địa phương có bao nhiêu lễ hội và làng nghề truyền thống có khả năng phục vụ du lịch nhân văn?
Tiền Hải có 13 di tích cấp quốc gia, 77 lễ hội mỗi năm (45 lễ hội truyền thống, 17 cách mạng, 15 tôn giáo; phân bố gồm 68 hội làng và 9 hội vùng) cùng 27 làng nghề thủ công tiêu biểu như dệt chiếu (gần 400.000 chiếc/năm), làm nón (trên 300.000 chiếc/năm) và làm muối (hơn 6.000 tấn/năm).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Sim đã phác thảo một bức tranh toàn diện và khách quan về tài nguyên du lịch ven biển huyện Tiền Hải tại thời điểm năm 2008. Công trình làm rõ mâu thuẫn giữa tiềm năng tài nguyên sinh thái - nhân văn phong phú với hiện trạng cơ sở hạ tầng nghèo nàn, doanh thu thấp và sản phẩm dịch vụ đơn điệu. Các số liệu quy hoạch chi tiết tại bãi biển Đồng Châu và Cồn Vành được trình bày trong khóa luận mang giá trị tư liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu và định hướng phát triển không gian du lịch biển tỉnh Thái Bình.