Chương I: Lý luận chung về truyền thông nội bộ - Chương II: Kênh b o chí với tư c ch là kênh hoạt động truyền thông nội bộ tại công ty điện tử Samsung và công ty Yamaha Motor - Chương III: T m lối truyền thông nội bộ hiệu quả tại công ty điện tử Samsung và công ty Yamaha Motor 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG NỘI BỘ VÀ VIỆC KHAI THÁC KÊNH BÁO CHÍ TRONG TRUYỀN THÔNG NỘI BỘ DOANH NGHIỆP 1.1Hệ thống khái niệm 1.1 Báo chí Hiện nay, có nhiều khái niệm về b o chí, theo quan điểm cơ bản của giai cấp tư sản th b o chí là phương tiện thông tin – thông tin sự kiện, khách quan, độc lập và không phụ thuộc vào chính trị. Theo quan điểm của giai cấp vô sản, báo chí là công cụ tuyên truyền, là phương tiện đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Tuy nhiên, chúng ta có thể đưa ra kh i niệm về b o chí như sau: “B o chí là loại h nh c c phương tiện truyền thông đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyển tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến cho đông đảo công chúng nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn [30, tr.2 Các loại hình báo chí Trong Luật Sửa đổi, bổ xung một số điều của luật B o chí có quy định các loại h nh b o chí như sau: “B o chí nói chung trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạo chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn). b o nói (chương tr nh ph t thanh), b o h nh (chương tr nh truyền hình – chương tr nh nghe – nhìn thời sự được thực hiện bằng c c phương tiện kỹ thuật kh c nhau), b o điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” [17, tr.
Ngoài các loại hình báo chí trên chúng ta cón có một loại hình báo chí khác nữa là báo ảnh.3 Doanh nghiệp và doanh nghiệp FDI Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, v rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn: Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư c ch ph p nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Xét theo quan điểm phát triển Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 ) Xét theo quan điểm hệ thống Doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng " doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có t c động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa kh c nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa c c định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây: * Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như c c bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính.
* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. * Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. * Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư c ch ph p nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư c ch ph p nhân: Tư c ch ph p nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và x c định. Việc khẳng định tư c ch ph p nhân của doanh nghiệp với tư c ch là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. - Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong các hình thức đầu tư quốc tế đặc trưng bởi sự di chuyển tư bàn giữa các quốc gia.
Bởi vậy, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct Investment) vốn có lịch sử khá lâu đời với nhiều cách hiểu kh c nhau. Đặc biệt, khi nền kinh tế càng sôi động và biến đổi không ngừng như hiện nay, ở mỗi thời điểm người ta lại xây dựng nên c c c ch định nghĩa FDI để phù hợp thực tiễn. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước kh c (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tái chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là c c cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [27]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary Fund) lại có một định nghĩa kh c về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI [Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary Fund), [28].
Tại Việt Nam việc xây đựng và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã đ nh dấu một bước ngoặt lớn về tư duy ph t triển kinh tế trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại v nó đã tạo ra nền tảng pháp lý cho việc hợp tác kinh doanh với nước ngoài, một vấn đề còn quá mới mẻ vào thời điểm đó. Kh i niệm luật đầu tư nước ngoài cũng được thể hiện cụ thể trong điều 2, Luật này như sau: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này". Theo đó, "Nhà đầu tư nước ngoài có thể là tổ chức kinh tế hay cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam" [1]. Ngoài ra, theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế thị trường hiện đại, khái niệm đầu tư trực tiếp có thể hiểu là "đầu tư của các công ty hay cá nhân vào các hoạt động kinh doanh của nước ngoài mà nhà đầu tư có mức độ kiểm soát đ ng kể đối với hoạt động đó" [29, tr.