Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm Lễ hội Khái niệm Lễ hội đã trở thành một từ thông dụng trong cuộc sống đương đại, tuy nhiên, tìm hiểu về thuật ngữ lễ hội lại là một vấn đề không đơn giản. Nguồn gốc thuật ngữ “lễ hội” là từ “festums” của La tinh với nghĩa là sự vui chơi, vui mừng của công chúng. Trong tiếng Pháp “fete” hoặc “festival” và trong tiếng Anh là “festivals” là những thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp các hoạt động văn hóa của cộng đồng, là nét đặc trưng của lễ hội.
Theo từ điển Robert của Pháp, lễ hội được hiểu là một sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thương mại, được tổ chức nhằm thu hút đông đảo người tham gia như các lễ hội văn hóa dân gian, lễ kỷ niệm quốc khánh, lễ hội âm nhạc, lễ hội đường phố,.[40] Trong gốc từ Hán Việt, “Lễ hội” là từ ghép của hai từ “lễ” và “hội”, trong đó “lễ” là những quy tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôn giáo; “hội” là cuộc vui, đám vui đông người.[9] Như vậy, lễ hội được hiểu là hệ thống các hoạt động văn hóa, tiến trình này bao gồm những nghi thức phải tiến hành, nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa và những trò chơi cộng đồng cho mọi người cùng tham dự. Lễ hội vừa giữ vai trò gắn kết cộng đồng, vừa góp phần tạo dựng không gian văn hóa trang trọng, linh thiêng mà không kém phần sôi động, tưng bừng. Có rất nhiều khái niệm về lễ hội, trong đó nổi bật là khái niệm của M.Bakhtin và GS.Bakhtin cho rằng: “Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức lễ tế và trò diễn là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng cư dân. Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu như nó không được thăng hoa, liên kết và 16 quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng vượt lên trên tôn giáo của các phương tiện và điều kiện tất yếu.
Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thóat ly tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới lý tưởng mà ở đó mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả.Kuahayashi (Nhật Bản): “Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn. Xét về tính chất văn hóa, lễ hội là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật như: mỹ thuật, nghệ thuật, giả trí, kịch văn học và với ý nghĩa đó lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết với sự phát triển của văn hóa.157] Đó là những ý kiến và định nghĩa về lễ hội của tác giả nước ngoài, ở Việt Nam, khái niệm về lễ hội đơn giản và phổ biến nhất là của tác giả Dương Văn Sáu: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội.35] Như vậy, mặc dù có rất nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về lễ hội, chúng ta vẫn có thể thấy nội dung thống nhất về khái niệm từ lễ hội: đó là hình thức sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng gắn liền với các nghi thức đặc thù và các cuộc vui chung nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, thể hiện khát vọng và những mong muốn của họ về cuộc đời. Có thể nói lễ hội là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều nét sinh hoạt văn hóa dân gian. Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn cội của dân tộc, nó thể hiện sức mạnh đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc của cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc.
Các loại hình lễ hội có yêu cầu về không gian, thời gian, lễ thức riêng và được xem là di sản văn hóa quý giá của quốc gia, dân tộc. 17 Định nghĩa về lễ hội có thể hiểu một cách đơn giản nhất như sau: Lễ hội là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định, gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng nơi lễ hội diễn ra. Bên cạnh việc cần phải bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội cũng góp phần hình thành nên những thói quen mới, lối sống mới, cách hành xử mới trước các sự kiện, dấu ấn lịch sử đương đại. Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử, ra đời do nhu cầu tinh thần của một cộng đồng ở nông thôn trước đây và được duy trì bởi tính tự nguyện đáp ứng các nhu cầu tinh thần của cả một cộng đồng.
Từ xa xưa, người Việt Nam đã có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, chính vì thế, lễ hội còn được xem là một sự kiện nhằm thể hiện những truyền thống quý báu của cộng đồng, từ đó, tôn vinh những người có công trong lịch sử hay những vị thần linh trong huyền thoại của dân tộc. Lễ hội truyền thống bao gồm các lễ hội được hình thành từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong lễ hội truyền thống, các lễ hội dù có quy mô lớn hay nhỏ đều gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm những nghi lễ, nghi thức nghiêm túc, gắn với sự tích, quyền năng của thần linh trong trí tưởng tượng của con người, diễn đạt mối quan hệ giữa Người và Thần linh.
Chính vì vậy, phần nghi lễ thường rất linh thiêng, các nghi thức được tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định của cộng đồng nhằm kỉ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó. Mục đích của phần nghi lễ để thể hiện lòng biết ơn, tôn vinh và cảm tạ về sự kiện, nhân vật nào đó với mong muốn nhận được nhiều may mắn trong cuộc sống. Phần hội bao gồm các hoạt động vui chơi như các trò chơi dân gian, diễn xướng vui chơi, được mô phỏng theo những động tác lao động hàng ngày như đấu vật, đánh đu, chơi cờ, hát đối. Hội được tổ chức cho đông đảo người dân đến dự theo phong tục diễn ra trong thời gian sau lễ.
Mục đích của 18 phần hội nhằm mang lại tinh thần vui chơi thoải mái cho mọi người, không bị ràng buộc bởi lễ nghi tôn giáo, đẳng cấp và tuổi tác. Lễ hội truyền thống rất đa dạng về nội dung như: lễ hội thờ cúng các nhân vật, sự kiện có liên quan ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới cả dân tộc và đất nước (như lễ hội đền Hùng - 10/3 âm lịch, lễ hội chùa Hương.); lễ hội vùng miền (lễ hội Phủ Giầy 3/3, lễ hội đền Kiếp Bạc 20/8 âm lịch…); lễ hội tại các làng quê (lễ thờ thành hoàng làng); lễ hội nông nghiệp (các lễ thức thờ cúng hồn lúa, cầu nước, tạ ơn.); lễ hội tôn vinh các danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng và các chư vị thánh phật, các vị thiên thần và nhân thần (tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên như Sơn thần, Thổ thần , Thủy thần, mộc Thần, lễ Vu Lan 15/7 âm lịch.); lễ hội tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (Lễ thờ tổ nghề, tổ nước). Những năm gần đây, ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung còn hình thành các loại lễ hội cộng đồng đã trở thành lễ hội thương mại nhằm quảng bá sản phẩm của các tổ chức nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp.Stoeltji “thuật ngữ lễ hội chỉ được dùng để chỉ các hình thức sinh hoạt dân gian mang tính cộng đồng xuất hiện từ thời hiện đại (tác giả nhấn mạnh), có sử dụng các đặc điểm của lễ hội nhưng lại phục vụ cho các mục đích thương mại, hệ tư tưởng hoặc chính trị của các nhà cầm quyền hoặc nhà kinh doanh có tư lợi”.141] Lễ hội hiện đại ra đời từ sau năm 1945, vừa là một hoạt động sinh hoạt văn hóa vừa là một sinh hoạt chính trị rộng khắp phản ánh được trình độ, điều kiện và xu hướng phát triển của xã hội ở vào thời điểm diễn ra lễ hội. Có thể thấy lễ hội hiện đại thường là những hoạt động mang ý nghĩa xã hội có liên quan đến các sự kiện chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội như các lễ hội du lịch, hội chợ triển lãm, lễ hội thương mại du lịch.
Bên cạnh đó, sự phát triển, hội nhập về kinh tế và giao thoa văn hóa dẫn đến sự hình thành một hình thức lễ hội mới 19 hiện nay được gọi là festival và ngày càng phổ biến hơn trong đời sống xã hội hiện đại. Định nghĩa của Festival trong các ngành khoa học xã hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ bao gồm các hình thức và các sự kiện, nghi lễ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến tất cả các thành viên của một cộng đồng và biểu lộ các giá trị cơ bản, hệ tư tưởng và thế giới quan của các thành viên trong cộng đồng đó. Như vậy, có thể thấy rằng festival ra đời như một phương thức để quảng bá hình ảnh của một địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống tinh thần, đồng thời tạo ra lợi nhuận nếu như biết đầu tư cho nó như một sản phẩm được bán trên thị trường. Lễ hội hiện đại là loại hình lễ hội chủ yếu được hình thành trong xã hội công nghiệp, hiện đại và được tổ chức theo phong cách đặc trưng để đáp ứng các yêu cầu về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội ngày nay nhằm tôn vinh các giá trị gắn với hoạt động đa dạng của đời sống xã hội.
Lễ hội hiện đại bao gồm các hoạt động chào mừng một sự kiện nào đó, lễ khai mạc, lễ bế mạc các sự kiện quan trọng gắn với một tổ chức hay rộng hơn trên phạm vi quốc gia – dân tộc. Lễ hội hiện đại thường diễn ra trong khoảng thời gian ngắn ở các trung tâm đô thị, thủ đô và các thành phố lớn của đất nước; trừ các hội chợ xuân, hội chợ triển lãm, liên hoan du lịch. Lễ hội hiện đại có thể diễn ra hàng năm hoặc theo định kì vài năm một lần.