Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp khai thác Hát Đúm Thủy Nguyên, Hải Phòng phục vụ hoạt động du lịch" được sinh viên Hoàng Thị An thực hiện tại Khoa Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Hương. Đề tài thuộc ngành Việt Nam học (chuyên ngành Văn hóa du lịch), tiếp cận vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể dưới góc độ phát triển kinh tế du lịch bền vững.

Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ thực trạng thăng trầm của lễ hội truyền thống tại Việt Nam. Theo tác giả, trong nhiều năm qua, sinh hoạt lễ hội từng có giai đoạn bị suy giảm do hoàn cảnh chiến tranh và khó khăn kinh tế, đồng thời chịu ảnh hưởng tiêu cực từ nhận thức quản lý hành chính cứng nhắc khi từng bị quy kết là lãng phí hoặc mê tín dị đoan. Tại huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), Hát Đúm là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian đặc trưng gắn liền với các lễ hội mùa xuân, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tuy nhiên, trước làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng, việc khai thác Hát Đúm phục vụ du lịch vẫn mang tính tự phát, chưa bền vững và đối mặt với nguy cơ mai một.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm ba nội dung:

  1. Nâng cao hiểu biết và nhận thức lý luận, thực tiễn về hoạt động du lịch và việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn.
  2. Cung cấp nguồn tư liệu khoa học, góp phần tìm hiểu và tôn vinh giá trị của Hát Đúm nhằm phục vụ mục tiêu phát triển du lịch bền vững tại địa phương.
  3. Cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên các khóa sau và những người quan tâm đến việc khai thác di sản văn hóa trong du lịch.

Để hoàn thành mục tiêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khảo sát, làm rõ các giá trị lịch sử - văn hóa và thực trạng diễn xướng Hát Đúm tại Thủy Nguyên trong bối cảnh đương đại.
  2. Đề xuất hệ thống giải pháp duy trì, bảo tồn và khai thác bền vững loại hình nghệ thuật này gắn với hoạt động du lịch.
  3. Định hướng xây dựng các tuyến tour du lịch lễ hội, kết nối di sản văn hóa Thủy Nguyên với các điểm đến trong thành phố Hải Phòng và các vùng lân cận thành quần thể thống nhất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động văn hóa nghệ thuật Hát Đúm trên địa bàn huyện Thủy Nguyên; trọng tâm là đánh giá giá trị nghệ thuật và thực trạng khai thác gắn với du lịch.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; khảo sát sâu tại các địa bàn lưu giữ truyền thống Hát Đúm là tổng Phục xưa (nay gồm các xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài triển khai từ ngày 15/10/2018 đến ngày 05/01/2019; dữ liệu thứ cấp và thông tin khảo sát tập trung vào giai đoạn 2015, 2016 và 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành du lịch học và tài nguyên du lịch:

  • Khái niệm du lịch: Dẫn giải quan điểm của Karl Marx về thước đo văn minh gắn với sử dụng thời gian rỗi bổ ích; định nghĩa của nhà kinh tế học Kalfiotis về du lịch như một sự di chuyển tạm thời tạo nên các quan hệ kinh tế; chiết tự chữ Hán ("du" là ngao du, "lịch" là lịch trình) nhằm phân biệt du lịch với các hình thức di chuyển cư trú khác.
  • Khái niệm và phân loại tài nguyên du lịch: Khóa luận đối chiếu các định nghĩa của Pirojnik, các nhà khoa học Trung Quốc, Khoản 4 Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, Nguyễn Minh Tuệ và Bùi Thị Hải Yến. Tác giả chọn định nghĩa của Bùi Thị Hải Yến làm cơ sở phân tích chính, phân chia tài nguyên du lịch thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể: Phân tích chi tiết các thành tố gồm lễ hội (phần lễ và phần hội), nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật (nhã nhạc và dân ca), văn hóa ẩm thực, thơ ca văn học, văn hóa ứng xử, văn hóa tộc người và các hoạt động mang tính sự kiện (loại hình du lịch MICE - Meeting Incentive Conference Event).

Khóa luận quán triệt năm quan điểm nghiên cứu: quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển du lịch bền vững, quan điểm kế thừa và quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước (trọng tâm là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng gồm:

  • Phương pháp thực địa và thu thập tài liệu: Khảo sát thực tế tại Thủy Nguyên để đối chiếu lý luận và thiết lập ngân hàng dữ liệu.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn du khách tham quan lễ hội, cán bộ quản lý văn hóa, ban tổ chức và nghệ nhân tham gia sinh hoạt dân gian.
  • Phương pháp bản đồ, tranh ảnh: Nhận diện và biểu đạt phân bố không gian của đối tượng nghiên cứu.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà nghiên cứu văn hóa và chuyên gia du lịch.
  • Phương pháp thống kê, phân tích và so sánh tổng hợp: Xử lý dữ liệu định tính và định lượng để xây dựng cơ sở luận chứng cho các giải pháp.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm tài liệu chuyên khảo tại Thư viện Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, báo cáo của Sở Du lịch Hải Phòng, số liệu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thủy Nguyên và tư liệu điền dã trực tiếp từ các câu lạc bộ Hát Đúm tại địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài và tổng quan về hoạt động hát Đúm tại Thủy Nguyên

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế du lịch và giới thiệu khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu.

Tác giả luận giải vai trò toàn diện của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: đóng góp vào GDP; thúc đẩy phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giải quyết việc làm; tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc và mở rộng quan hệ đối ngoại.

Về địa bàn huyện Thủy Nguyên, tác giả cung cấp các số liệu và đặc điểm địa bàn:

  • Vị trí: Cửa ngõ phía Bắc Hải Phòng; giáp tỉnh Quảng Ninh (phía Bắc, Đông Bắc), giáp huyện An Dương và nội thành (phía Tây Nam), giáp cửa biển Nam Triệu (phía Đông Nam).
  • Diện tích tự nhiên: 242,7 km²; dân số trên 31 vạn người; cơ cấu hành chính gồm 35 xã và 2 thị trấn (trong đó có 7 xã miền núi).
  • Tiềm năng kinh tế và hạ tầng: Hơn 20 xí nghiệp, nhà máy lớn; tuyến Quốc lộ 10 từ Bến Kiền, Đá Bạc đi Quảng Ninh; dự án Nhà máy Nhiệt điện 600 MW (xã Tam Hưng); Nhà máy Xi măng Hải Phòng (thị trấn Minh Đức); Công ty Công nghiệp Tàu thủy Nam Triệu; các khu đô thị Núi Đèo, Minh Đức, Bắc Sông Cấm.
  • Tiềm năng du lịch: Hệ thống thắng cảnh hồ Sông Giá, hang Lương, hang Vua, quần thể núi Tràng Kênh và các di tích bên dòng sông Bạch Đằng.

Bên cạnh đó, chương 1 tổng hợp kinh nghiệm khai thác nghệ thuật dân gian phục vụ du lịch trong và ngoài nước qua bảng tổng hợp sau:

Đơn vị / Loại hình Địa bàn Phương thức khai thác thực tế Kết quả / Thực trạng
Nhà hát Múa rối Thăng Long Hà Nội Đỏ đèn 366 ngày/năm, linh hoạt giờ diễn theo yêu cầu, hợp tác với hơn 300 công ty lữ hành. Đón gần 10.000 lượt khách quốc tế và 3.000 lượt khách nội địa mỗi tháng; tỷ lệ khách tour đạt 70 - 80%.
Nhà hát Cải lương Hà Nội Hà Nội Trang bị tai nghe thuyết minh tiếng Anh cho vở "Mệnh đế vương", thử nghiệm chương trình ca múa nhạc dân tộc. Duy trì lượng khách du lịch ổn định tại rạp 72 Hàng Bạc.
Nhà hát Chèo và Nhà hát Tuồng Việt Nam Hà Nội Lên lịch diễn định kỳ (2 buổi/tuần) phục vụ khách quốc tế. Gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn khách từ các công ty du lịch; lượng khách đến ít.
Đờn ca tài tử (CLB Tân Châu) An Giang Ký hợp đồng biểu diễn phục vụ du khách trên các tàu du lịch từ TP. Hồ Chí Minh. Trở thành sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương.
Dàn nhạc ngũ âm Khmer An Giang Đưa vào giảng dạy tại Trường THPT Dân tộc nội trú và Trung cấp Nghề Dân tộc nội trú tỉnh; khai thác âm nhạc lễ hội Bảy Núi. Tạo điểm nhấn bản sắc dân tộc phục vụ du khách tìm hiểu văn hóa sâu.
Kịch Noh và Kabuki Nhật Bản Biểu diễn tại Nhà hát Quốc gia và các nhà hát chuyên biệt (Kabukiza, Shimbashi Embujo), diễn ngoài trời tại chùa thắp đuốc. Bảo tồn nguyên vẹn tính bác học, phục vụ cả công chúng trong nước và khách du lịch quốc tế.
Nhà hát Lớn Moscow Nga Trình diễn các tác phẩm kinh điển (như ballet "Hồ thiên nga" của Tchaikovsky); kết hợp mạng lưới 170 nhà hát các cấp. Đóng vai trò biểu tượng văn hóa quốc gia, điều tiết thị hiếu nghệ thuật cho công chúng và du khách.

Chương 2: Thực trạng hát Đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay

Chương 2 là phần nội dung trọng tâm khảo sát lịch sử, đặc điểm âm nhạc và tiến trình biến đổi của Hát Đúm tại huyện Thủy Nguyên.

Về cấu trúc diễn xướng truyền thống, một cuộc Hát Đúm hoàn chỉnh trải qua 9 bước theo trình tự nghi thức dân gian chặt chẽ:

STT Tên bước hát Nội dung diễn xướng và ý nghĩa văn hóa
1 Hát chào hỏi (Hát giao hẹn) Mở đầu bằng câu "Rằng người thương ơi", kết thúc bằng câu "Duyên khách bạn tình ơi". Bên nam thường chủ động chào trước; bên nữ hát răn, giao hẹn nhằm ngăn chặn các hành vi "hát tục", "hát chua" và thử thách tài ứng đối của bên nam.
2 Hát giao duyên (Huê tình) Nội dung trọng tâm, diễn ra sôi nổi nhất. Trai gái gửi gắm tình cảm yêu thương, nhớ nhung, mượn hình ảnh ẩn dụ đối xứng. Các bước hát khác đóng vai trò chuẩn bị hoặc phục vụ cho bước hát này.
3 Hát đố - giảng Thể hiện tri thức, kinh nghiệm sống và tài ứng đối nhạy bén. Lời ca đố - giảng kết hợp giữa vốn liếng cổ truyền và sáng tác tức thời, có tác dụng khuyến khích việc học vấn trong cộng đồng.
4 Hát họa Tiếp nối phần đố - giảng theo thể thơ lục bát biến thể. Nội dung so tài về thế giới tự nhiên và xã hội (họa đất, trời, mây, cây cỏ, sinh vật xung quanh).
5 Hát mời Chuyển tiếp đề tài sang giao tiếp ứng xử đời thường: mời ăn trầu, uống rượu, uống chè, hút thuốc và mời về chơi nhà, biểu thị lòng hiếu khách dân gian.
6 Hát lính Đặc trưng riêng biệt của Hát Đúm Thủy Nguyên. Thành phần tham gia có cả binh lính tại ngũ; ca từ biến đổi từ khí tiết tòng quân bảo vệ đất nước sang các phản ánh lịch sử đương thời.
7 Hát thư Lời ca bộc lộ nỗi nhớ nhung, cảnh ngộ chia ly, tăng thêm chiều sâu cảm xúc cho hội hát.
8 Hát cưới và sau cưới Diễn xướng các thủ tục dạm hỏi, xin cưới, thách cưới. Đồ vật thách cưới thường được khoa trương, phóng đại mang tính ước lệ để tăng không khí vui nhộn.
9 Hát ra về Thể hiện tâm trạng lưu luyến khi giã bạn. Đi kèm các cử chỉ trao - nhận nón, khăn, ô làm kỷ vật và hẹn gặp lại ở mùa hội sau.

Về đặc điểm âm nhạc và hình thức diễn xướng:

  • Âm nhạc: Hát Đúm không phát triển về tuyến giai điệu mà chỉ xoay quanh 3 cao độ cố định là Rề - Sol - Lá. Trọng tâm nằm ở tài năng ứng khẩu, phát triển lời ca linh hoạt theo thể lục bát và song thất lục bát trên các làn điệu trống quân, cò lả, quan họ, sa mạc, lý giao duyên. Giọng hát vùng tổng Phục trong trẻo, từng được cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đề nghị lấy làm âm chuẩn cho tiếng Việt.
  • Tục che mặt: Phụ nữ đi hát hội trùm khăn đen mỏ quạ che kín mặt. Chỉ khi tìm được bạn hát tâm đầu ý hợp qua lời ca, cô gái mới mở khăn cho đối phương ngắm dung mạo, sau đó mời trầu, tặng vật kỷ niệm và mời về nhà dùng cơm đầu xuân.

Khóa luận phân tích sự biến đổi của Hát Đúm trong đời sống đương đại qua bảng so sánh:

Tiêu chí Hát Đúm truyền thống Hát Đúm hiện nay tại Thủy Nguyên
Hình thức diễn xướng Tồn tại cả hát lẻ (nhóm nhỏ vài người lao động, đi đường) và hát hàng (hội đình, chùa). Hát lẻ đã biến mất hoàn toàn; chỉ còn hình thức hát hàng có tổ chức tại lễ hội đầu xuân.
Không gian, trang phục Sân đình, bến nước; trang phục dân gian cổ truyền; đôi nam nữ ngồi đối diện "mặt nhìn mặt, tay cầm tay". Ngồi ghế, nam nữ đứng xen kẽ quay mặt về phía khán giả, sử dụng micro và máy phóng thanh.
Thời gian, phương thức Hát tự do thâu đêm suốt sáng, kéo dài nhiều ngày cho đến khi phân thắng bại. Chia ca theo khung giờ quy định (mỗi đôi hát từ 1 đến 2 tiếng rồi luân chuyển sang xã khác).
Độ tuổi tham gia Đông đảo thanh niên nam nữ chưa lập gia đình tham gia tìm hiểu, kết duyên. Lực lượng già hóa, người hát chủ yếu từ 35 đến 60 tuổi (có nghệ nhân 80 tuổi); rất ít thanh niên tham gia.
Địa bàn tập trung Lan tỏa rộng khắp vùng ven biển Thủy Nguyên và các vùng phụ cận. Thu hẹp chủ yếu tại ba xã: Phục Lễ, Phả Lễ và Lập Lễ.
Thị hiếu tiếp nhận Là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã. Giới trẻ chuyển sang nghe nhạc thị trường (như Lam Trường, Ưng Hoàng Phúc, Đàm Vĩnh Hưng); khảo sát du khách đa phần nhận xét "không hay và khó hát".

Tác giả cũng ghi nhận những phương thức thích nghi mới: việc ghi âm xuất bản đĩa CD/VCD dân ca Hát Đúm của các ca nương xã Lập Lễ phục vụ người dân và kiều bào tại Anh, Úc, Mỹ, Canada, Trung Quốc; việc cách điệu trích đoạn đố - giảng thành tiết mục "Hát Đúm hội Đu" của Đoàn Ca múa nhạc Hải Phòng tại Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc.

Chương 3: Một số giải pháp cho việc bảo tồn và khai thác hát Đúm theo hướng bền vững phục vụ hoạt động du lịch

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch, tập trung vào cơ chế chính sách và tài chính:

  • Cơ chế chính sách tài chính:
    • Phân bổ nguồn vốn công ích từ ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương tự cân đối cho công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch.
    • Sử dụng quỹ đất tạo vốn đầu tư cơ sở hạ tầng thông qua đấu thầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Quyết định số 22/2003/QĐ-BTC ngày 18/02/2003 của Bộ Tài chính.
    • Vận động và thu hút các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), trọng tâm là Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhằm nâng cấp hạ tầng giao thông, mạng lưới cấp điện, cấp nước tại các khu vực diễn ra lễ hội.
    • Điều tiết hợp lý các nguồn thu từ hoạt động lễ hội để tái đầu tư cho việc khôi phục di sản văn hóa.
  • Bảo tồn và truyền dạy: Khôi phục không gian diễn xướng nguyên bản; hỗ trợ chế độ cho các nghệ nhân cao tuổi; đưa Hát Đúm vào chương trình giáo dục ngoại khóa tại các trường học trên địa bàn.
  • Khai thác du lịch và quảng bá: Thiết kế tour du lịch chuyên đề kết nối di sản Hát Đúm với các tuyến điểm sinh thái (hồ Sông Giá, khu đô thị sinh thái Bắc Sông Cấm) và di tích lịch sử (quần thể Tràng Kênh, sông Bạch Đằng); đẩy mạnh xúc tiến quảng bá hình ảnh di sản đến du khách trong và ngoài nước.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu và khảo sát thực địa:

  • Hệ thống hóa đầy đủ tiến trình một canh Hát Đúm cổ truyền gồm 9 bước, khẳng định nét đặc thù về cấu trúc lời ca và tính chất ứng tác của Hát Đúm tổng Phục so với các thể loại dân ca giao duyên khác ở đồng bằng Bắc Bộ.
  • Ghi nhận chính xác thực trạng phân bố địa bàn thu hẹp (tập trung tại Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ) và cơ cấu độ tuổi tham gia (chủ yếu từ 35 đến 60 tuổi), phản ánh thực trạng mai một của hình thức hát lẻ tự do trong sinh hoạt cộng đồng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính thực tế, gắn kết việc bảo tồn văn hóa với các căn cứ pháp lý và công cụ tài chính cụ thể (Quyết định số 22/2003/QĐ-BTC, vốn vay ODA từ WB và ADB, cơ chế phân bổ ngân sách địa phương).
  • Về mặt học thuật, công trình đóng góp một hồ sơ tư liệu điền dã có giá trị về văn hóa dân gian Thủy Nguyên tại thời điểm khảo sát (2018 - 2019), làm rõ sự biến đổi của văn hóa truyền thống dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và di chuyển lao động nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định và giới hạn của đề tài:

  • Thời gian nghiên cứu ngắn (khoảng 3 tháng, từ 15/10/2018 đến 05/01/2019), tác giả thừa nhận nhận thức lý luận và thực tiễn của bản thân còn những điểm chưa sâu sắc.
  • Khảo sát xã hội học về thị hiếu du khách mới dừng lại ở các câu hỏi phỏng vấn định tính, chưa công bố quy mô dung lượng mẫu ($n=?$) và chưa lượng hóa tỷ lệ phần trăm cụ thể bằng bảng số liệu thống kê chi tiết.
  • Các chương trình tour du lịch kết nối di sản mới dừng ở mức định hướng ý tưởng, chưa xây dựng chi tiết lịch trình, chi phí vận hành và phương án kinh doanh cụ thể cho từng đối tượng khách lữ hành.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Mở rộng điều tra xã hội học định lượng với mẫu khảo sát lớn trên các nhóm du khách tham gia các tour du lịch văn hóa tại Hải Phòng.
  • Nghiên cứu mô hình kết hợp cụ thể giữa các hợp tác xã du lịch cộng đồng với các câu lạc bộ Hát Đúm tại Phục Lễ, Lập Lễ nhằm thương mại hóa dịch vụ trải nghiệm mà không làm biến dạng giá trị cốt lõi của di sản.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho:

  • Sinh viên ngành Việt Nam học, Văn hóa học và Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành: Tham khảo về cấu trúc một đề tài nghiên cứu văn hóa du lịch địa phương, phương pháp điền dã thu thập tư liệu nghệ thuật dân gian và cách thức tiếp cận bài học kinh nghiệm quốc tế/trong nước.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Cung cấp tư liệu thực tế về 9 bước diễn xướng và thực trạng biến đổi sinh hoạt Hát Đúm tại Thủy Nguyên, hỗ trợ hoạch định chính sách bảo tồn cấp cơ sở.
  • Các doanh nghiệp lữ hành: Sử dụng phần mô tả nghi thức Hát Đúm (đặc biệt là tục che mặt, hát đố - giảng, hát giao duyên) để xây dựng bài thuyết minh du lịch và phát triển các sản phẩm trải nghiệm văn hóa mùa xuân tại Hải Phòng.

Câu hỏi thường gặp

1. Hát Đúm Thủy Nguyên phân bố chủ yếu ở những xã nào và gắn với sự kiện sinh hoạt văn hóa nào?
Theo kết quả khảo sát trong khóa luận, hiện nay sinh hoạt Hát Đúm tại Thủy Nguyên thu hẹp tập trung tại ba xã: Phục Lễ, Phả Lễ và Lập Lễ (thuộc vùng tổng Phục xưa). Hoạt động này diễn ra sôi nổi nhất vào dịp hội xuân đầu năm tại sân đình làng, tiêu biểu là Lễ hội Mở mặt tại xã Phục Lễ.

2. Trình tự một canh Hát Đúm truyền thống gồm bao nhiêu bước và bước nào giữ vai trò quan trọng nhất?
Một canh Hát Đúm hoàn chỉnh gồm 9 bước: (1) Hát chào hỏi/giao hẹn, (2) Hát giao duyên (huê tình), (3) Hát đố - giảng, (4) Hát họa, (5) Hát mời, (6) Hát lính, (7) Hát thư, (8) Hát cưới và sau cưới, (9) Hát ra về. Trong đó, Hát giao duyên (huê tình) là phần nội dung chính và cốt lõi nhất của buổi diễn xướng, các bước khác đóng vai trò chuẩn bị, thử tài hoặc nối tiếp cảm xúc.

3. Đặc điểm âm nhạc và phong tục biểu diễn độc đáo nhất của Hát Đúm Thủy Nguyên là gì?
Về âm nhạc, Hát Đúm không phát triển nhiều về giai điệu mà chỉ dựa trên ba cao độ chính là Rề - Sol - Lá, sự phong phú tập trung vào lời ca đối đáp lục bát và song thất lục bát. Về phong tục, phụ nữ khi tham gia hội hát phải trùm khăn đen mỏ quạ che kín mặt, chỉ khi cảm mến tài năng đối đáp của người bạn hát bên nam thì cô gái mới bỏ khăn che mặt để đối phương nhìn thấy dung mạo.

4. Khóa luận chỉ ra những biến đổi tiêu cực nào của Hát Đúm Thủy Nguyên trong bối cảnh công nghiệp hóa?
Tác giả ghi nhận các biến đổi: hình thức hát lẻ biến mất hoàn toàn; người hát không còn mặc trang phục cổ truyền hay cầm tay nhau mà ngồi ghế hát qua máy phóng thanh; thời gian hát bị hành chính hóa theo ca (1 - 2 tiếng/đôi); người tham gia già hóa (từ 35 đến 60 tuổi, thanh niên ít tham gia); giới trẻ nông thôn có xu hướng rời xa dân ca truyền thống do bận làm việc tại các khu công nghiệp hoặc tiếp nhận các dòng nhạc trẻ thị trường.

5. Tác giả đề xuất các nguồn vốn cụ thể nào để bảo tồn Hát Đúm và phát triển du lịch Thủy Nguyên?
Khóa luận đề xuất: huy động ngân sách nhà nước (Trung ương và địa phương); thực hiện đấu thầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạo vốn cơ sở hạ tầng theo Quyết định số 22/2003/QĐ-BTC; kêu gọi vốn vay hỗ trợ phát triển chính thức ODA từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) để nâng cấp giao thông, cấp điện, nước; đồng thời trích điều tiết nguồn thu từ các lễ hội trên địa bàn để tái đầu tư cho bảo tồn.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Hoàng Thị An đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể và phân tích thực trạng bảo tồn, diễn xướng Hát Đúm tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn di sản nguyên bản với áp lực đô thị hóa, đồng thời làm rõ sự chuyển đổi từ hình thức sinh hoạt cộng đồng tự nhiên sang biểu diễn sân khấu hóa và thu âm thương mại. Các giải pháp do tác giả đề xuất đã gắn việc bảo tồn nghệ thuật truyền thống với các cơ chế tài chính cụ thể và định hướng liên kết tuyến điểm du lịch sinh thái, di tích tại địa phương. Công trình đóng vai trò là một tài liệu khảo cứu thực địa hữu ích đối với công tác nghiên cứu văn hóa dân gian và xây dựng sản phẩm du lịch di sản tại Hải Phòng.