phần mở đầu, phụ lục, danh mục các biểu, đồ thị, các chữ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục đề tài gồm 4 chƣơng: 3 Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về phát triển khai thác hải sản theo hƣớng bền vững Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng phát triển khai thác hải sản tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2013 Chƣơng 4.
Phƣơng hƣớng và các giải pháp phát triển khai thác hải sản tỉnh Quảng Bình theo hƣớng bền vững. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Các vấn đề phƣơng pháp nghiên cứu và lý thuyết về ”phát triển” và ”phát triển bền vững” đã đƣợc nhiều giáo sƣ, tiến sỹ nghiên cứu và trình bày trong các tài liệu giảng dạy cao học chuyên ngành kinh tế nhƣ: giáo trình ”Kinh tế chính trị đại cƣơng”, Đại học Quốc gia Hà Nội (Phạm Văn Dũng và các cộng sự); giáo trình ”phương pháp luận nghiên cứu khoa học” (Vũ Cao Đàm); giáo trình”Môi trường và phát triển bền vững” (Nguyễn Đình Hòe); giáo trình ”Kinh tế phát triển” (Phan Thị Nhiệm). Những nghiên cứu này đóng vai trò cung cấp lý thuyết nền tảng và cơ sở khoa học cho bài nghiên cứu.
Trong nghiên cứu, tác giả đã kế thừa kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp có nội dung liên quan đến phát triển thủy sản nói chung và khai thác hải sản nói riêng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra hiện trạng khai thác hải sản ở Việt Nam, trong đó điển hình là nghiên cứu ”Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam” của TS. Nguyễn Duy Chinh (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ƣơng) (2008). Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong vòng 15 năm (1990-2007), số lƣợng tàu thuyền lắp máy đánh bắt hải sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với thời gian trong đó số lƣợng tàu thuyền đánh bắt xa bờ luôn chiếm tỷ lệ không cao nhƣng có xu hƣớng tăng dần theo thời gian.
Trong 15 năm, sản lƣợng khai thác ngày càng tăng, trong khi năng suất bình quân theo công suất ngày càng giảm. Ngoài các nghiên cứu mang tính chất tổng quan cho toàn ngành và cả nƣớc, đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả khai thác nguồn lợi thủy sản tại một 5 số địa phƣơng. Theo Nguyễn Trọng Tuy và cộng sự, trong nghiên cứu ”Thực trạng và một số giải pháp trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản ở tỉnh Tiền Giang”, chỉ ra rằng số tàu khai thác ở Tiền Giang có đƣợc lợi nhuận chiếm 83,62%, trong đó tàu khai thác ven bờ có tỷ lệ lỗ và mức lỗ nhiều hơn tàu khai thác xa bờ trong khi tàu khai thác xa bờ đòi hỏi chi phí đầu tƣ cao hơn cũng nhƣ mức độ rủi ro nhiều hơn. Một nghiên cứu khác của Trịnh Kiều Nhiên và Trần Đắc Định về ”Hiện trạng khai thác và quản lý nguồn lợi hải sản ở tỉnh Sóc Trăng” (2012) cho thấy trong giai đoạn 2005-2011, số lƣợng tàu khai thác giảm 4%, trong khi sản lƣợng khai thác tăng 43,5%.
Sản lƣợng khai thác tăng là do công suất máy tàu tăng 82%. Tuy nhiên, sản lƣợng trên một đơn vị khai thác (CPUE) lại giảm 38,2%, điều đó cho thấy nguồn lợi hải sản đang bị suy giảm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, trong Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Ninh ”Một số giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” (2006) chỉ ra rằng nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ đã có dấu hiệu suy giảm mạnh trong khi đó nguồn lợi hải sản xa bờ ở các vùng nƣớc truyền thống cũng đã bị suy giảm ở một số loài. Nghiên cứu cũng cho thấy sản lƣợng khai thác và cƣờng lực thực tế ở Bà Rịa Vũng Tàu đã vƣợt quá ngƣỡng bền vững làm suy giảm nguồn lợi vùng biển gần bờ.
Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Oai cho thành phố Đà Nẵng năm 2011 ”Giải pháp phát triển khai thác hải sản xa bờ của thành phố Đà Nẵng” cũng có nhiều điểm tƣơng đồng với nghiên cứu cho Bà Rịa – Vũng Tàu. Nghiên cứu này kết luận rằng số lƣợng và công suất tàu cá hàng năm tại Đà Nẵng đều tăng. Tuy nhiên số lƣợng tàu cá có công suất nhỏ (< 20CV) và hoạt động ven bờ vẫn chiếm tỷ lệ cao (56,4%). Cƣờng lực khai thác tăng nhƣng hiệu quả khai thác giảm mạnh so với năm 2007.
Kết luận của nghiên cứu này cũng tƣơng đồng với kết luận của Trần Hồng Minh trong Luận văn Thạc sĩ ”Giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản tỉnh Khánh Hòa” (2010). 6 Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, để duy trì sản lƣợng khai thác bền vững tối đa (MSY) cần giảm cƣờng lực khai thác. Tuy nhiên, mức cƣờng lực cần cắt giảm của các nghiên cứu đƣa ra là khác nhau. Theo nghiên cứu của Thái Ngọc Chiến (2009), nguồn lợi hải sản ven bờ đã bị khai thác quá mức và cƣờng lực khai thác cần giảm khoảng hơn 30% để duy trì sản lƣợng khai thác bền vững tối đa.
Trong khi đó, theo Nguyễn Văn Kháng (2011), số lƣợng tàu thuyền khai thác ở khu vực miền Trung cần cắt giảm đến 38% để duy trì sản lƣợng khai thác bền vững tối đa. Ngoài ra, trong nghiên cứu của Nguyễn Viết Thành (2006), cƣờng lực khai thác nghề lƣới kéo tôm ở khu vực Vịnh Bắc Bộ cũng cần giảm từ 46% đến 61% để duy trì mức lợi nhuận kinh tế tối đa (MEY). Những chỉ số phát triển bền vững quan trọng của nghề cá biển cần đƣợc xác định là cƣờng lực và sản lƣợng khai thác bền vững tối đa (MSY). Trong đó MSY là điểm tham chiếu sự phát triển bền vững về sản lƣợng khai thác, trở thành tiêu chuẩn quốc tế ( FAO, 1999) Để xác định ngƣỡng cƣờng lực khai thác tối đa ngƣời ta có thể sử dụng nhiều phƣơng pháp tính toán khác nhau nhƣ sử dụng công thức Gulland (1983); DEA (1978); Schaefer (1954); Fox (1970).
Tùy thuộc vào điều kiện, mục đích nghiên cứu để lựa chọn công thức sử dụng cho phù hợp. Với công thức Gulland (1983) cũng giống nhƣ các công thức trong mô hình Schaefer (1954) và Fox (1970) đây là công thức sử dụng các tiếp cận sinh học quần thể làm cơ sở để xây dựng dựa trên sản lƣợng thặng dƣ của quần thể. Tuy nhiên, công thức Gulland thƣờng chỉ dùng để tính sản lƣợng khai thác tối đa cho những quần thể chƣa bị khai thác, còn với Schaefer và Fox đƣợc dùng để tính cho những quần thể đang bị khai thác. Không những thế, hai mô hình này cũng đƣợc sử dụng trong đánh giá nghề cá đa loài bằng việc xác định sản lƣợng khai thác tối đa cho từng loài trong cùng phạm vi rồi chọn lấy giá trị an toàn.
Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình này chủ yếu là số liệu phụ thuộc 7 nghề cá nhƣ: (năng suất khai thác, cƣờng lực khai thác, chi phí, doanh thu, giá sản phẩm,. Những số liệu này dễ dàng thu thập đƣợc qua việc điều tra thu mẫu nghề cá thƣơng phẩm. Với những vấn đề nêu trên, trong điều kiện hoàn cảnh nƣớc ta việc áp dụng mô hình toán của Schaefer (1954) và Fox (1970) để tính toán MSY và fMSY của đề tài là hoàn toàn hợp lý cả về mặt khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, mô hình này dựa trên những tiếp cận sinh học quần thể và nghề cá nƣớc ta là đa nghề nên nhìn chung bài toán đặt ra là khá phức tạp.
Để có thể tính toán sản lƣợng khai thác bền vững tối đa và cƣờng lực khai thác tối ƣu là cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh cƣờng lực khai thác của các đội tàu, ngoài việc sử dụng các mô hình này cho từng loài đƣợc lựa chọn, việc chuẩn hóa cƣờng lực khai thác là vô cùng cần thiết. Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu về thủy sản nói chung và lĩnh vực khai thác hải sản nói riêng ở các góc độ, địa bàn khác nhau với những phƣơng pháp khác nhau, đã tập trung phân tích, đánh giá hiện trạng và các nhân tố ảnh hƣởng phát triển bền vững về thủy sản nói chung và lĩnh vực khai thác hải sản nói riêng từ đó đề ra các giải pháp phát triển bền vững trong thời gian tới. Các kết quả nghiên cứu trên có một số nội dung có giá trị và phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển khai thác hải sản tỉnh Quảng Bình có thể kế thừa. Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về phát triển bền vững trong lĩnh vực khai thác hải sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã đƣợc công bố. Trong luận văn này, tác giả đã kế thừa những thành quả đã nghiên cứu của các công trình trên về mặt cơ sở lý luận, phƣơng pháp và một số kết quả nghiên cứu, kết hợp với điều tra khảo sát thực tế, từ đó phân tích, đánh giá, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững trong lĩnh vực khai thác hải sản trên 8 địa bàn tỉnh Quảng Bình. Cụ thể là đi sâu nghiên cứu làm rõ thực trạng, nguyên nhân các tồn tại hạn chế trong lĩnh vực khai thác hải sản của tỉnh Quảng Bình, từ đó tìm giải pháp phát triển năng lực khai thác, tăng số lƣợng tàu cá xa bờ, giảm số lƣợng tàu cá ven bờ; chuyển dịch từ nghề khai thác hiệu quả thấp, gây cạn kiệt nguồn lợi sang nghề hiệu quả cao, thân thiện với môi trƣờng; tổ chức lại sản xuất, liên kết các khâu trong chuỗi dịch vụ đầu vào, khai thác và tiêu thụ sản phẩm; cải tiến công nghệ khai thác, công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên tàu; nâng cao trình độ và thu nhập của lao động; giảm thiểu rủi ro, tai nạn trong khai thác; bảo vệ nguồn lợi hải sản. Những vấn đề cơ bản về phát triển khai thác hải sản theo hƣớng bền vững 1.
Phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chƣa hoàn thiện đến hoàn thiện; là sự tiêu vong của cái cũ và sự ra đời của cái mới (Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội). Khái niệm về phát triển bền vững Trong lịch sử, đã có nhiều quan điểm định nghĩa về sự phát triển bền vững.