chương I, Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2017 quy định: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.” Các dịch vụ bao gồm dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Tuy nhiên, theo quan điểm trên của Luật Du lịch thì sản phẩm du lịch chỉ đơn thuần là “hoạt động của các ngành dịch vụ”. Trên thực tế, nội dung của hoạt động du lịch phong phú hơn nhiều.Coltman: Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình. Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát.
Sản phẩm du lịch còn là trải nghiệm du lịch và nó là tổng thể nên Kraf nói “một khách sạn không làm nên du lịch”. Robert Christie Mill trong tác phẩm “Tourism - The International Business”(1990) cho rằng du lịch có 4 chiều định vị hay 4 không gian du lịch: (1) điểm hấp dẫn du lịch, (2) các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, (3) vận chuyển du lịch và (4) lòng hiếu khách. Nếu tiếp cận ở khía cạnh của du khách thì “Sản phẩm du lịch bao hàm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần chứa đựng trong không gian của điểm đến mà có thể thoả mãn nhu cầu của du khách về tham quan, thưởng ngoạn, vui chơi, giải trí,.” Hay nói cách khác, “Sản phẩm du lịch dưới khía cạnh của du khách là tất cả những cảm xúc mà du khách trải nghiệm và cảm nhận được trong một chuyến đi du lịch.” 5 Tóm lại, sản phẩm du lịch của một điểm đến là sự hoà trộn mang tính quy luật của các giá trị tự nhiên và nhân văn, các giá trị vật thể và phi vật thể chứa đựng trong không gian của một điểm đến. Sản phẩm du lịch sẽ đem lại cho du khách những ấn tượng và cảm xúc đặc trưng nhất về một điểm đến.
Vai trò của du lịch: - Vai trò của du lịch trong nền kinh tế: Du lịch phát triển hỗ trợ các ngành giao thông vật tại, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ ăn uống và nghỉ ngơi. Ngoài ra ngành du lịch phát triển mang lại thị trường tiêu thụ văn hoá to lớn, thúc đẩy phát triển nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. - Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội: • Ngành du lịch tạo ra cơ hội việc làm lớn cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ. Ở các vùng cao, ngành du lịch tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân miền núi , tạo ra những chuyển biến tích cực xã hội, nâng cao mức sống.
• Góp phần làm giảm quá trình đô thị hoá, hài hòa sự phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng từ đô thị về nông thôn, nhờ đó làm giảm những tiêu cực do đô thị hoá gây nên. • Đồng thời du dịch cũng là công cụ quảng bá văn hoá, phong tục tập quán hiệu quả của con người Việt Nam cho bạn bè quốc tế để biết nhiều hơn về du lịch Việt Nam. KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH TÂM LINH VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH TÂM LINH TẠI VIỆT NAM 1. Khái quát về du lịch tâm linh Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất.
Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch. Theo nghiên cứu trên, tác giả đề xuất cách hiểu về du lịch tâm linh là hình thức du lịch lấy yếu tố tâm linh làm mục tiêu để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người, thường gắn liền với những giá trị văn hóa phi vật thể và vật thể gắn liền với lịch sử, tôn giáo, tính ngưỡng và những giá trị tinh thần khác.
Cũng chính bởi thế mà du lịch tâm linh không chỉ mang đến cho khách du lịch những trải nghiệm khám phá vùng đất mới mà còn mang đến những giá trị khác về tinh thần cho người đi du lịch. Với cách hiểu như vậy, có thể nhận diện những dòng người đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành 6 các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện cúng tế, chiêm báo, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội…Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Khách du lịch tâm linh Khách du lịch tâm linh là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch nhằm mục đích tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội… tại các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng. Bên cạnh những đặc trưng của khách du lịch nói chung, khách du lịch tâm linh có những đặc điểm sau: - Mục đích chính của khách du lịch tâm linh là nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Nhu cầu đó có thể gắn với tôn giáo, tín ngưỡng để vượt qua giới hạn tiến đến một nấc thang mới của cuộc sống tâm hồn hoặc đơn thuần là nhu cầu giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi của công việc, cuộc sống.
- Khách du lịch tâm linh thường đi theo một nhóm lớn, số lượng khách tăng cao vào các mùa lễ hội, các sự kiện văn hóa tôn giáo tại địa điểm tâm linh. - Khách du lịch tâm linh thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi khác nhau, bao gồm cả du khách trong nước và khách quốc tế. Đặc trưng của du lịch tâm linh - Du lịch tâm linh là một khái niệm mới ở Việt Nam nhưng thực chất hoạt động du lịch tâm linh đã diễn ra từ rất lâu đời trên thế giới. Du lịch tâm linh trên thế giới nhìn chung có một số đặc trưng sau: - Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và tín ngưỡng.
Các địa điểm du lịch tâm linh là những nơi linh thiêng gắn với sự hình thành và phát triển của các tôn giáo trên thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Hindu, đạo Hồi,… Bên cạnh việc thưởng ngoạn cảnh đẹp, du khách đến các địa điểm du lịch tâm linh còn nhằm mục đích thực hiện các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng nhằm thể hiện đức tin. - Du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng tri ân, thời cúng các vị anh hùng dân tộc Việt Nam, người có công với đất nước như Thành Hoàng Làng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương,… - Du lịch tâm linh tại Việt Nam gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, người sinh thành. - Du lịch tâm linh thường gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, hay tham gia vào các lễ hội, các phong tục. Các loại hình du lịch tâm linh Du lịch tâm linh ngày càng phát triển, các hình thứ du lịch tâm linh cũng vì thế mà trở nên đa dạng hơn.
Các loại hình du lịch tâm linh phổ biến hiện nay như: - Thứ nhất là các hoạt động vãn cảnh, tham quan tại các địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo. Khách du lịch tới các địa điểm tôn giáo như đền, chùa,…để tham quan, vãn cảnh. Loại hình du lịch tâm linh này mặc dù chưa thể hiện rõ được ý nghĩa của du lịch tâm linh nhưng lại là hoạt động phổ biến nhất đối với cả khách du lịch trong nước và nước ngoài. - Thứ hai là các hoạt động tham quan, vãn cảnh kết hợp cúng bái, cầu nguyện tại các địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo.
Loại hình này cũng khá phổ biến hiện nay, nhưng thường chỉ mở rộng ở phạm vi khách du lịch trong nước. - Thứ ba là loại hình du lịch tâm linh có mục tiêu giáo lý giúp con người trở nên thư thái trong tâm hồn nhờ đó cải thiện tình trạng sức khỏe và có cuộc sống thoải mái, nhẹ nhàng nhất. Xu hướng phát triển của du lịch tâm linh Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng. Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng và các lễ hội được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước.
Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển.