PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, BĐKH là một hiện tượng toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. BĐKH đã và đang gây ra những ảnh hưởng nhất định đến nhiều khu vực trên thế giới, trong đó đồng bằng sông Cửu Long được nhận diện là một trong ba đồng bằng trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Nhiệt độ ở đồng bằng sông Cửu Long tăng khá nhiều, lượng mưa tăng ít nhất cả nước, mùa khô rõ rệt và chế độ nước trở nên thất thường.
Những điều này đã tác động rất lớn đến sinh hoạt và sản xuất của người dân ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010). Bến Tre có điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước thuận lợi và đây chính là tiền đề cho sự phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, là một tỉnh của ĐBSCL, Bến Tre cũng đang bị tác động rất lớn bởi BĐKH.
BĐKH đang gây ảnh hưởng nhất định đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình ở Bến Tre. Trước những tác động của BĐKH, những hộ sản xuất nông nghiệp tỉnh Bến Tre đã có những cách thức ứng phó để giảm thiểu tác động của BĐKH đến đời sống của họ. Khả năng ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp là một trong những chủ đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Phần lớn những nghiên cứu của các tác giả về chủ đề này chỉ ra những biện pháp mà những hộ sản xuất nông nghiệp sử dụng để ứng phó trong từng lĩnh vực cụ thể cũng như đưa ra những yếu ảnh hưởng đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ mới đề cập đến tên của những yếu tố này chứ chưa phân tích những tác động cụ thể của các yếu tố này đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH của người dân. Chính vì thế, tác giả quyết định chọn đề tài: “Khả năng ứng phó trước những tác động của biến đổi khí hậu của những hộ sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” để làm rõ hơn, phân tích sâu hơn về vấn đề này. Mục đích nghiên cứu Đề tài này hướng đến mục đích nghiên cứu các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH của những hộ sản xuất nông nghiệp và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của họ. Từ đó, đưa ra định hướng cho việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ những hộ nông nghiệp ứng phó tốt hơn với BĐKH.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là: Phân tích thực trạng và đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương. Tìm hiểu tác động của BĐKH đến đời sống của những hộ sản xuất nông nghiệp và các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH cũng như phân tích một số yếu tố tác động đến hoạt động ứng phó của họ. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp ứng phó trước những tác động của BĐKH của hộ sản xuất nông nghiệp và những chính sách, chương trình ở địa phương. Nội dung nghiên cứu Tìm hiểu về thực trạng cũng như sự thay đổi của hoạt động sản xuất nông nghiệp ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre so với những năm trước đây và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm mục đích chỉ ra những tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Đồng thời, phân tích vai trò của hoạt động sản xuất nông nghiệp trong đời sống người dân và xác định các tác động của BĐKH đến đời sống của những hộ sản xuất nông nghiệp. Phân tích các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước tác động của BĐKH trong sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe. Đồng thời, chỉ ra sự tác động của các yếu tố như mức sống, mức độ hiểu biết về BĐKH đến hoạt động ứng phó của họ. 12 Đánh giá hiệu quả của các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH của những hộ sản xuất nông nghiệp ở hai cấp độ: cấp độ hộ gia đình và cấp độ các chính sách, chương trình ở địa phương.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khả năng ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước tác động của BĐKH. Khách thể nghiên cứu Các hộ sản xuất nông nghiệp hiện đang sống ở hai xã An Hóa và xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Phạm vi nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả đã có sử dụng dữ liệu khảo sát từ đề tài: “Tác động kinh tế - xã hội của BĐKH tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Nghiên cứu trường hợp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)” để phân tích và viết báo cáo. Đề tài được thực hiện vào: Thời gian: Từ ngày 16/08/2017 đến ngày 19/08/2017.
Không gian: Tại xã An Hóa và xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ý nghĩa nghiên cứu 8. Ý nghĩa lý luận Những thông tin thực nghiệm thu được từ kết quả khảo sát của đề tài, cũng như những phát hiện, kiểm chứng sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu cho các đề tài nghiên cứu về khả năng ứng phó trước tác động của BĐKH của những hộ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, đề tài là một minh chứng cho việc áp dụng thuyết phân tầng xã hội và thuyết lựa chọn hợp lý để lý giải các vấn đề nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu là một cơ hội để sinh viên trực tiếp thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học phù hợp với chuyên ngành cũng như áp dụng những kiến thức đã học trên lớp ở các môn như: phương pháp nghiên cứu xã hội học, xã hội học môi trường, lý thuyết xã hội học,. vào trong thực tiễn cuộc sống. Thêm vào đó, nghiên cứu còn giúp định hướng cho những chương trình, chính sách về BĐKH ở địa phương. 14 PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã đọc và phân tích một số đề tài nghiên cứu về BĐKH.
Những đề tài nghiên cứu về BĐKH thường chỉ ra ba khía cạnh chính là biểu hiện của BĐKH, tác động của BĐKH và các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH. Tổng quan về biểu hiện của biến đổi khí hậu Biểu hiện của BĐKH là một khía cạnh được khá nhiều các tác giả quan tâm. Những nghiên cứu về khía cạnh này bao gồm những nghiên cứu về biểu hiện BĐKH trên toàn thế giới, những nghiên cứu về biểu hiện của BĐKH trên một đất nước, một khu vực hay một tỉnh cụ thể nào đó. Về biểu hiện của BĐKH trên thế giới, tác giả Kỳ Quang Vinh (2013) trong bài viết: “Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban liên minh về biến đổi khí hậu (IPCC) và một số thông tin liên quan” đưa ra những số liệu: từ những năm 1950, nhiều thay đổi quan sát được chưa từng có trong nhiều thập kỷ hoặc thiên niên kỷ.
Khí quyển và đại dương đã ấm lên, mực nước biển đã dâng lên, lượng tuyết và băng đã giảm do nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ngày càng cao hơn. Ngoài ra, tác giả còn đề cập, trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ năm 1850. Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1. Đại dương tích lủy phần lớn năng lượng trong hệ thống khí hậu và nóng lên.
Hầu như chắc chắn rằng phần nước mặt của đại dương (từ 0-700m sâu) ấm lên trong giai đoạn 1971-2010 và có khả năng nó đã bắt đầu ấm từ giai đọan 1870 và 1971. Bên cạnh đó, trong hai thập kỷ qua, lớp băng bao phủ Greenland và Nam Cực đã mất đi hàng loạt. Trên toàn thế giới các sông băng tiếp tục co lại và vào mùa xuân lượng tuyết phủ trên Bắc băng dương và Bắc bán cầu đã tiếp tục giảm. Tốc độ nước biển dâng từ giữa thế kỷ 19 đã lớn hơn so với tốc độ nước biển dâng trung bình trong hai ngàn năm trước đó.
Trong hơn 100 năm từ 1901 đến 2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng 0,19m. 15 Đối với khu vực Đông Nam Á, Tổ chức Môi trường Thế giới dự báo nhiệt độ sẽ gia tăng 10C vào các năm 2010-2039, và từ 30C đến 40C vào các năm 2070 đến 2099. Trong giai đoạn từ 2010 đến 2039 lượng mưa sẽ giảm 20mm/năm, rồi sau đó từ năm 2070 đến năm 2099 sẽ tăng 60mm/năm; mực mước biển dâng cao 6cm/năm, đạt mức 20 cm vào 2030, và gầm 100 cm vào năm 2100. Kết quả nghiên cứu về biểu hiện BĐKH ở Việt Nam cũng cho thấy những điều tương tự so với thế giới và Đông Nam Á.
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016) về “Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam”, ở Việt Nam, nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây. Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42oC. Lượng mưa trung bình năm có xu thế giảm ở hầu hết các trạm phía Bắc; tăng ở hầu hết các trạm phía Nam. Cực trị nhiệt độ tăng ở hầu hết các vùng, ngoại trừ nhiệt độ tối cao có xu thế giảm ở một số trạm phía Nam.
Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn trong mùa khô. Mưa cực đoan giảm đáng kể ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng. Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm nhưng xuất hiện những đợt rét dị thường và ảnh hưởng của El Nino và La Nina có xu thế tăng.
ĐBSCL là đồng bằng có diện tích lớn nhất trong ba đồng bằng ở Việt Nam. Trước giờ, ĐBSCL nổi tiếng là vùng đất có khí hậu ôn hòa, thiên nhiên ưu đãi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, biểu hiện cực đoan của BĐKH đã và đang diễn ra ở đây. Số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy, nhiệt độ ở đồng bằng sông Cửu Long tăng khá nhiều, lượng mưa tăng ít nhất cả nước song tác động của nước biển dâng vượt xa các vùng khác.
Nhiệt độ trung bình năm tăng lên 0,4oC vào năm 2020; 1,0oC vào năm 2050 và 2,0oC vào năm 2100.