CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở VIỆT NAM 1. Tổng đàn và sự phân bố Số lượng, tốc độ tăng quy mô đàn bò, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ở Việt Nam năm 2015 – 2019 được thể hiện ở hình 1.
Số lượng đàn bò của nước ta tăng đều trong giai đoạn 2015 – 2019, từ 5,4 triệu con lên gần 6,1 triệu con, tăng khoảng 13%. Trong các vùng sinh thái của cả nước, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung luôn là vùng có đàn bò lớn nhất cả nước (chiếm gần 40% tổng đàn bò). Vùng Miền núi và Trung du chiếm hơn 17%, tiếp theo là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long với hơn 14%, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ với 6,9% tổng đàn bò cả nước (Bảng 1. Tổng đàn bò và sản lượng thịt bò của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019 (Nguồn: Cục chăn nuôi, 2016; 2020) Số lượng bò lai ở Việt Nam năm 2015 là khoảng 3,0 triệu con nhưng đến năm 2019 số lượng này là khoảng 3,7 triệu con, tăng 23,6%.
Điều này cho thấy chăn nuôi bò lai ở Việt Nam hiện nay có tốc độ phát triển rất nhanh. Người chăn nuôi dần dần đã nuôi bò lai thay thế giống bò Vàng địa phương. Sở dĩ đàn bò lai tăng cao là do: (1) Nhà nước đã có nhiều chính sách hổ trợ nhân giống và chăn nuôi bò chuyên thịt cao sản, (2) người chăn nuôi nhận thấy được ưu điểm của việc nuôi bò lai đã đem lại năng suất sinh trưởng và sản lượng thịt vượt trội hơn so với các giống bò địa phương, (3) thịt bò lai cũng được thị trường tiêu thụ ưa chuộng hơn, và (4) hệ thống giết mổ đã thay đổi phù hợp hơn cho bò có khối lượng lớn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019). Năm 2015, tỷ lệ bò lai cao nhất ở vùng Bắc trung bộ và Duyên hải miền 6 Trung chiếm 37,2% tổng đàn bò lai cả nước, tiếp đến là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm tỷ lệ với 19,4%, thấp nhất là vùng Miền núi và Trung du chỉ chiếm tỷ lệ 5,9% so với tổng đàn bò lai cả nước.
Đến năm 2019, tỷ lệ bò lai cao nhất vẫn là vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung với 43,2% so với tổng đàn bò lai cả nước, thấp nhất là vùng Miền núi và Trung du chỉ với 7,4% tổng đàn bò lai. Tốc độ phát triển đàn bò lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tập quán chăn nuôi, nhận thức của người chăn nuôi, điều kiện môi trường và các yếu tố xã hội khác. Một số tỉnh có tỷ lệ bò lai đạt cao trên 70% như: Nghệ An, Bình Định, Quảng Ngãi, Bến Tre, … (Cục chăn nuôi, 2016; 2020). Cùng với việc tổng đàn tăng thì sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng trong nước cũng tăng.
Năm 2015 tổng sản lượng thịt hơi là 299.324 tấn đến năm 2019 là 355. So sánh tốc độ tăng giữa tỷ lệ bò lai và sản lượng thịt cho thấy, tuy tỷ lệ bò lai tăng khá nhanh nhưng sản lượng thịt vẫn còn tăng chậm. Điều này cho thấy đàn bò lai ngày càng tăng về số lượng, nhưng năng suất thịt chưa thực sự cao. Phân bố đàn bò (con) theo vùng sinh thái giai đoạn 2015 – 2019 Năm Vùng sinh thái 2015 2016 2017 2018 2019 ĐB Sông Hồng 496.562 Miền núi và TD 943.577 Bắc TB và DHMT 2.450 Đông Nam bộ 367.462 ĐB Sông Cửu Long 689.642 ĐB: Đồng bằng, TD: Trung du, TB: Trung bộ, DHMT: Duyên hải miền Trung (Nguồn: Cục chăn nuôi, 2016; 2020) Phân bố sản lượng thịt bò theo vùng sinh thái từ năm 2015 đến 2019 được trình bày ở bảng 1.
Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung có sản lượng thịt bò cao nhất với hơn 42% tổng sản lượng thịt bò xuất chuồng của cả nước. Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long tuy có số lượng đàn bò thấp hơn vùng Miền núi và Trung du (849.577) nhưng có sản lượng thịt cao thứ 2 cả nước (chiếm gần 17%). Các vùng còn lại có sản lượng thịt cơ bản tương đương nhau. Phân bố sản lượng thịt bò (tấn) theo vùng sinh thái giai đoạn 2015 – 2019 Năm Vùng sinh thái 2015 2016 2017 2018 2019 ĐB Sông Hồng 32.288 Miền núi và TD 30.086 Bắc TB và DHMT 128.166 Đông nam bộ 24.808 ĐB Sông Cửu Long 46.071 ĐB: Đồng bằng, TD: Trung du, TB: Trung bộ, DHMT: Duyên hải miền Trung (Nguồn:Cục Chăn nuôi, 2016; 2020) Về phân bố địa phương, theo Cục chăn nuôi (2020) cho thấy một số tỉnh có sản lượng thịt bò lớn như Thanh Hóa (17.929 tấn), Nghệ An (17.014 tấn), Quảng Ngãi (19.849 tấn), Bình Định (30.244 tấn) và Gia Lai (22.
Phương thức chăn nuôi Chăn nuôi bò thịt ở nước ta có 03 phương thức chủ yếu đó là chăn nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng canh. Phương thức chăn nuôi thâm canh được hiểu là phương thức nuôi nhốt, bò được cung cấp thức ăn thô, thức ăn tinh và nước uống tại chuồng, giống bò nuôi là bò lai hoặc bò thuần chuyên thịt. Phương thức chăn nuôi bán thâm canh được hiểu là phương thức kết hợp chăn thả và bổ sung thức ăn tại chuồng, thức ăn bổ sung gồm thức ăn thô và thức ăn tinh, giống bò nuôi chủ yếu là bò lai hoặc bò thuần chuyên thịt. Phương thức chăn nuôi bò quảng canh được hiểu là chăn thả là chủ yếu, thời gian chăn thả dài, bò không được bổ sung thức ăn tại chuồng, hoặc nếu có bổ sung thì thường là thức ăn thô với lượng thấp, giống bò chủ yếu là bò địa phương.
Chăn nuôi bò theo phương thức bán thâm canh quy mô nông hộ 2 – 3 con ở đồng bằng là phổ biến, tận dụng phụ phế phẩm nông nghiệp và lao động nhàn rỗi. Chăn nuôi bò quảng canh chủ yếu tập trung ở vùng miền núi. Chăn nuôi bò thâm canh chủ yếu ở đồng bằng và trung du với quy mô nông hộ từ 3 – 4 con chiếm tỷ lệ gần 70 % (Cục Chăn nuôi, 2019). Khuynh hướng chăn nuôi bò gia trại, trang trại ngày càng phát triển.
Chăn nuôi trang trại với quy mô 100 con trở lên bước đầu đã hình thành và được tập trung ở các tỉnh Bình Phước, Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019). Các trang trại đã đầu tư chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, nuôi các giống bò hướng thịt, 8 trồng các loại cây thức ăn có năng suất cao kết hợp với việc sử dụng thức ăn tinh hỗn hợp. Tuy nhiên, công nghệ chăn nuôi ở các trang trại đổi mới chưa nhiều, chỉ mới tập trung đầu tư nâng cấp chuồng trại mà chưa áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý đàn bò và kỹ thuật vỗ béo bò thịt. Thuận lợi và khó khăn Ngành chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam hiện nay có nhiều thuận lợi.
Thị trường tiêu thụ thịt bò trong nước rất tiềm năng, nhu cầu tiêu thụ thịt bò của nước ta đang tăng nhanh, do thu nhập cao và mức sống được cải thiện. Hiện nay, sản lượng thịt bò chỉ chiếm 4 – 5% tổng sản lượng thịt xẻ (Cục Chăn nuôi, 2019). Thực tế cho thấy, sản xuất thịt bò trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu nội địa, đặc biệt là thịt bò chất lượng cao. Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm 2006 và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương năm 2016 đã mở ra nhiều cơ hội đối với ngành chăn nuôi bò thịt.
Ví dụ, ngành chăn nuôi bò sẽ được tiếp cận nhanh với các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới từ các quốc gia có nền chăn nuôi bò hiện đại, tiên tiến hơn hẵn nước ta. Cùng với các ngành sản xuất khác, ngành chăn nuôi bò sẽ được thừa hưởng các thuận lợi to lớn từ việc cải cách thể chế, hoàn thiện cơ chế chính sách, cải cách thủ tục hành chính… theo xu thế hội nhập sâu, rộng. Ngành chăn nuôi bò sẽ thu hút được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Ngoài ra, Nước ta có nguồn lao động dồi dào, nguồn thức ăn phong phú và đa dạng.
Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam. Bên cạnh những thuận lợi trên thì ngành chăn nuôi bò thịt nước ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức. Việt Nam chưa có giống bò chuyên thịt. Con giống người dân nuôi hiện nay chủ yếu là giống địa phương và con lai của chúng với các giống chuyên thịt ở các mức độ máu khác nhau.
Những giống này tuy chống chịu bệnh tốt nhưng năng suất còn thấp và tiêu tốn thức ăn cao. Các giống bò hiện nay có khối lượng trưởng thành thấp 250 – 300 kg, và tỷ lệ thịt xẻ thấp với 43 – 44%, chiếm 52% tổng đàn (Cục Chăn nuôi, 2019). Một số giống bò thịt được nuôi phổ biến ở nước ta như Lai Sind, Lai Brahman, … các tổ hợp bò lai có máu bò chuyên thịt như Droughtmaster × Lai Sind, Charolais × Lai Brahman, Blanc - Blue – Belgium (BBB) × Lai Brahman, Red Angus × Lai Brahman hay các giống bò chuyên thịt thuần chủng… được nuôi rất hạn chế. Kinh nghiệm của người chăn nuôi về chăn nuôi bò thịt chuyên thịt chưa nhiều.
Chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán, thiếu đồng bộ, khó cơ giới hóa. Chăn nuôi bò thịt trên 90% vẫn là chăn nuôi nhỏ, phân tán và đang chuyển dần từ chăn nuôi quảng canh sang chăn nuôi bán thâm canh và thâm canh (Hoàng Kim Giao, 2018). Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến còn hạn chế, thiếu đồng bộ. Sự liên doanh, liên kết giữa người chăn nuôi với cơ sở thu mua, giết mổ, chế biến thịt chưa bền chặt, đôi khi bất hòa về lợi nhuận.
Việc chỉ đạo quản lý, phát triển theo 9 chuỗi ngành hàng về thịt chưa theo hệ thống, thường bị phân khúc, vì thế giá các sản phẩm thường cao và không ổn định (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019). LAI GIỐNG VÀ ƯU THẾ LAI 1. Khái niệm về lai giống và ưu thế lai Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực và con cái thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau. Hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau.
Do vậy, đời con không còn là dòng, giống thuần mà là con lai giữa hai dòng, giống khởi đầu. Lai giống có hai tác dụng chủ yếu là tạo ra ưu thế lai và bổ sung tính trạng giữa các dòng, giống.