Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm an ninh thực phẩm, với quy mô tổng đàn cả nước năm 2015 đạt 27,1 triệu con, tăng trưởng 2,8% so với năm trước đó. Tại vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Hồng, tỉnh Thái Bình duy trì đàn lợn thường xuyên trên 1 triệu con với 194.000 lợn nái sinh sản và 69 trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Mặc dù tiềm năng phát triển rất lớn, công tác nhân giống địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản do tỷ lệ nái ngoại và nái lai chất lượng cao còn thấp, dẫn đến năng suất sinh sản chưa đồng đều và chất lượng lợn thương phẩm chưa đáp ứng kỳ vọng thị trường.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là việc thiếu hụt dữ liệu đánh giá hệ thống, chuẩn hóa về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của đàn lợn giống cấp ông bà được nuôi dưỡng trong điều kiện tiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhằm giải quyết yêu cầu cấp thiết này, đề tài được thực hiện với mục tiêu đánh giá toàn diện năng suất sinh sản và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của 3 dòng nái ông bà gồm Landrace, Yorkshire và VCN11 khi phối giống với các dòng đực chuyên dụng (Yorkshire, Landrace và L19), đồng thời xác định mức độ tác động của các nhân tố ngoại cảnh để cải tiến chất lượng đàn bố mẹ.

Nghiên cứu được triển khai tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ thuộc Công ty Cổ phần giống chăn nuôi Thái Bình từ năm 2012 đến năm 2016, tập trung theo dõi thực nghiệm giai đoạn 2015-2016 trên 197 lợn nái sinh sản và đàn con lai từ cai sữa đến 60 ngày tuổi. Kết quả đề tài mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp tối ưu hóa số con sơ sinh sống trên 11 con mỗi ổ, giảm tỷ lệ tiêu tốn thức ăn sản xuất lợn con cai sữa xuống mức 6,37 đến 6,56 kg thức ăn trên một kg tăng trọng, tạo tiền đề khoa học vững chắc để nhân rộng mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc năng suất cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết di truyền số lượng và chọn lọc giống gia súc. Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái như số con sơ sinh mỗi lứa (hệ số di truyền h2 đạt 0,13), số con cai sữa mỗi lứa (h2 đạt 0,12) và khối lượng cai sữa toàn ổ (h2 đạt 0,17) có hệ số di truyền thấp đến trung bình, chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện quản lý và môi trường nuôi dưỡng. Mối tương quan kiểu gen giữa số con sơ sinh sống và số con cai sữa đạt mức thuận chặt chẽ (hệ số tương quan r dao động từ 0,81 đến 0,89), khẳng định việc cải thiện số phôi sống sơ sinh là nhân tố quyết định đến sản lượng cai sữa sau cùng.

Bên cạnh đó, khung lý thuyết sinh lý sinh sản gia súc được vận dụng để làm sáng tỏ cơ chế điều hòa chu kỳ tính thông qua trục thần kinh - thể dịch gồm Vùng dưới đồi (Hypothalamus), Tuyến yên và Buồng trứng. Sự rụng trứng diễn ra dưới sự điều tiết của các hormone Gonadotropin Releasing Hormone (GnRH), Luteinizing Hormone (LH) và Follicle Stimulating Hormone (FSH) với tỷ lệ cân bằng FSH/LH từ 2/1 đến 3/1, kích thích nang noãn chín và rụng trong khoảng 10 đến 15 giờ sau khi xuất hiện phản xạ đứng yên. Đồng thời, lý thuyết ưu thế lai (heterosis) trong các tổ hợp lai hai máu và ba máu được ứng dụng nhằm khai thác tối đa sức sống của đàn con và sức sản xuất sữa của lợn mẹ. Ba khái niệm chuyên ngành then chốt được lượng hóa gồm: tuổi thành thục sinh dục, năng suất sinh sản tổng hợp và hiệu quả chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio - FCR).

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ đàn lợn nái ông bà với tổng quy mô 197 cá thể, gồm 102 nái VCN11 phối giống với đực L19, 41 nái Landrace phối giống với đực Yorkshire và 54 nái Yorkshire phối giống với đực Landrace. Cỡ mẫu này đại diện đầy đủ cho các công thức lai hạt nhân tại đơn vị. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên hồ sơ theo dõi giống, sổ phối giống và sổ theo dõi sinh sản liên tục qua các năm 2012, 2013, 2014 và 2015.

Đối với thí nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi, nghiên cứu bố trí thí nghiệm phân lô so sánh hoàn toàn ngẫu nhiên. Mỗi tổ hợp lai gồm 3 lô (ổ), mỗi lô nuôi 10 cá thể và lặp lại 3 lần với tổng số 90 lợn con được cân đo định lượng thức ăn hằng ngày bằng cân điện tử và cân đồng hồ chính xác 0,1 kg. Dữ liệu thực nghiệm được phân tích thống kê theo mô hình tuyến tính tổng quát GLM trên phần mềm SAS phiên bản 9.0 và phần mềm Microsoft Excel 2007. Mô hình phân tích phương sai đa nhân tố được lựa chọn nhằm bóc tách độc lập và chính xác mức độ ảnh hưởng của yếu tố giống (3 dòng nái), lứa đẻ (từ lứa 1 đến lứa 6) và mùa vụ (vụ Đông - Xuân và vụ Hè - Thu) đến từng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng suất sinh sản chung của ba dòng nái đạt kết quả vượt trội so với mức bình quân của ngành. Số con sơ sinh trên một ổ của nái Landrace, VCN11 và Yorkshire đạt lần lượt 11,51 con; 11,54 con và 11,54 con. Số con sơ sinh sống mỗi ổ đạt tương ứng 11,07 con; 10,98 con và 11,16 con. Tỷ lệ sơ sinh sống ở lợn nái Yorkshire đạt cao nhất với 97,03%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nái Landrace (96,61%) và nái VCN11 (95,70%) với mức ý nghĩa P < 0,05.

Thứ hai, các chỉ tiêu về khối lượng sơ sinh và tuổi thành thục sinh dục thể hiện rõ ưu thế của từng dòng giống. Khối lượng sơ sinh toàn ổ ở nái Yorkshire đạt 15,04 kg, cao hơn 5,4% so với nái Landrace (14,27 kg) và nái VCN11 (14,29 kg). Về tuổi phối giống lần đầu, nái Landrace thành thục sớm nhất ở 238,90 ngày tuổi, tiếp theo là nái Yorkshire với 241,30 ngày và nái VCN11 là 250,30 ngày. Điều này giúp rút ngắn tuổi đẻ lứa đầu của đàn nái xuống mức lý tưởng từ 353,70 đến 364,40 ngày.

Thứ ba, lứa đẻ và mùa vụ là hai yếu tố ngoại cảnh chi phối mạnh mẽ nhất đến sức sản xuất của lợn mẹ. Năng suất sinh sản có xu hướng tăng dần từ lứa 1, đạt đỉnh cao nhất ở lứa đẻ thứ 3 đến thứ 5 (số con sơ sinh sống đạt trên 11,3 con mỗi ổ) và bắt đầu suy giảm từ sau lứa thứ 6 (P < 0,001). Về mùa vụ, vụ Đông - Xuân mang lại số con để nuôi và khối lượng sơ sinh toàn ổ cao hơn vụ Hè - Thu khoảng 4,2% do hạn chế được hiện tượng stress nhiệt.

Thứ tư, hiệu quả chuyển hóa thức ăn đạt mức tối ưu ở cả ba tổ hợp lai. Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa ở nái VCN11 đạt mức thấp nhất là 6,37 kg, trong khi ở nái Yorkshire là 6,42 kg và Landrace là 6,56 kg. Giai đoạn nuôi từ cai sữa đến 60 ngày tuổi, hiệu quả chuyển hóa thức ăn FCR của đàn con lai đạt mức rất ấn tượng, dao động từ 1,17 kg thức ăn trên một kg tăng trọng ở tổ hợp lai VCN11 đến 1,26 kg ở tổ hợp lai Yorkshire.

Thảo luận kết quả

Thành tích rút ngắn tuổi phối giống lần đầu xuống dưới 250 ngày và tuổi đẻ lứa đầu xuống dưới 365 ngày là kết quả của việc áp dụng quy trình nuôi dưỡng kích dục (flushing) tăng lượng thức ăn lên 3,0 kg mỗi ngày trước khi phối giống 14 ngày, kết hợp biện pháp tiếp xúc đực giống từ 15 đến 20 phút mỗi ngày nhằm kích hoạt feromon 3α-Andriosterol. So sánh với các công bố khoa học giai đoạn trước, kết quả số con sơ sinh sống trong nghiên cứu này cao hơn từ 1,1 đến 1,4 con mỗi ổ so với các ghi nhận truyền thống, chứng minh tiến bộ vượt bậc về tiềm năng di truyền của các dòng nái nhập nội và lai tạo hiện đại.

Các biến thiên về số con sơ sinh và khối lượng cai sữa qua 6 lứa đẻ có thể được biểu diễn một cách trực quan qua biểu đồ đường xu hướng parabol, thể hiện rõ chu kỳ sinh học đạt đỉnh ở lứa 3 đến lứa 5 trước khi thoái hóa sinh lý. Đồng thời, bảng số liệu so sánh tiêu tốn thức ăn giữa hai mùa vụ cho thấy sự gia tăng rõ rệt về chi phí thức ăn trong mùa nắng nóng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc kiểm soát vi khí hậu chuồng nuôi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình dinh dưỡng phân kỳ cho đàn nái hậu bị và nái mang thai. Đội ngũ kỹ thuật trang trại cần duy trì chế độ bồi thực 3,0 kg thức ăn hỗn hợp mỗi ngày (chứa 15% protein thô và 3.000 kcal ME/kg) trong 14 ngày trước khi phối giống, đồng thời kiểm soát khẩu phần nái chửa kỳ 1 ở mức 2,0 đến 2,2 kg mỗi ngày và kỳ 2 ở mức 2,5 đến 3,0 kg mỗi ngày nhằm đạt mục tiêu nâng tỷ lệ thụ thai lên trên 92% và duy trì khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt trên 14,5 kg. Quy trình này cần áp dụng thường xuyên ngay từ quý 1 năm 2017.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng chuồng trại để kiểm soát stress nhiệt mùa vụ. Ban quản lý kỹ thuật cơ sở chăn nuôi cần tiến hành lắp đặt đồng bộ hệ thống làm mát bằng tấm pad cooling kết hợp quạt hút thông gió công nghiệp trong 6 tháng đầu năm, bảo đảm duy trì nhiệt độ chuồng nuôi ổn định từ 24 đến 27 độ C trong vụ Hè - Thu, hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ chết phôi thai xuống dưới 4% và nâng tỷ lệ sống đến khi cai sữa lên trên 96%.

Thứ ba, cơ cấu lại đàn nái sinh sản và ấn định chu kỳ khai thác hợp lý. Trưởng bộ phận giống cần thực hiện rà soát, loại thải đàn nái sau lứa đẻ thứ 6 để duy trì tỷ lệ đàn nái thuộc lứa 2 đến lứa 5 chiếm tối thiểu 65% đến 70% tổng đàn, bảo đảm năng suất cai sữa bình quân toàn trại luôn đạt trên 10 con mỗi ổ trong chu kỳ đánh giá định kỳ hằng năm.

Thứ tư, áp dụng nghiêm ngặt kỹ thuật phối giống kép có kiểm soát thời điểm rụng trứng. Kỹ thuật viên thụ tinh nhân tạo cần thực hiện phối 2 lần cách nhau 10 đến 12 giờ vào thời điểm 24 đến 30 giờ sau khi lợn nái có phản xạ đứng yên, kết hợp kiểm tra phẩm chất tinh dịch đực giống định kỳ mỗi tuần nhằm duy trì số con sơ sinh sống đạt trên 11,2 con mỗi ổ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các Giám đốc kỹ thuật và Chủ trang trại chăn nuôi lợn quy mô công nghiệp. Luận văn cung cấp hệ thống định mức tiêu thụ thức ăn, các chỉ tiêu năng suất sinh sản thực chứng và công thức lai tối ưu, giúp chủ doanh nghiệp hoạch định chính xác cơ cấu chi phí, giảm giá thành sản xuất mỗi kg lợn giống cai sữa và nâng cao tỷ suất sinh lời.

Nhóm thứ hai là các Kỹ sư chăn nuôi và Bác sĩ thú y trực tiếp quản lý trại giống. Tài liệu là cẩm nang thực hành chi tiết về kỹ thuật phát hiện động dục, quy trình kích thích đàn hậu bị bằng đực giống, chế độ nuôi dưỡng nái nuôi con và kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ nhằm hạ thấp tỷ lệ hao hụt sau sinh.

Nhóm thứ ba là Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y tại các trường đại học, viện nghiên cứu. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm phân lô, xử lý thống kê bằng mô hình GLM trong SAS và phân tích sâu các tham số di truyền số lượng của giống gia súc ngoại.

Nhóm thứ tư là Cán bộ quản lý ngành Nông nghiệp và Cán bộ Khuyến nông các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Dữ liệu trong luận văn hỗ trợ việc xây dựng chiến lược quy hoạch giống lợn bố mẹ, định hướng cơ cấu đàn nái thương phẩm và ban hành các hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tổ hợp lai nào thể hiện năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế tối ưu nhất trong nghiên cứu? Tổ hợp nái Yorkshire phối với đực Landrace đạt thành tích sinh sản tốt nhất với số con sơ sinh sống đạt 11,16 con mỗi ổ và khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt 15,04 kg. Tuy nhiên, dòng nái VCN11 lại vượt trội về khả năng tiết kiệm chi phí dinh dưỡng khi chỉ tiêu tốn 6,37 kg thức ăn trên một kg lợn con cai sữa và FCR giai đoạn nuôi đến 60 ngày tuổi đạt 1,17 kg.

Tại sao yếu tố mùa vụ lại ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ sống của lợn con? Nhiệt độ môi trường tăng cao trong mùa Hè - Thu gây ra hiện tượng stress nhiệt, làm giảm lượng thức ăn thu nhận của lợn mẹ từ 10% đến 15% trong giai đoạn mang thai. Điều này làm suy giảm nồng độ hormone sinh sản, giảm lưu lượng máu cung cấp dinh dưỡng cho tử cung, dẫn đến tăng tỷ lệ chết phôi và làm giảm khối lượng sơ sinh của lợn con.

Thời điểm nào phối giống cho lợn nái đạt tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra cao nhất? Thời điểm phối giống lý tưởng nhất là từ 24 đến 30 giờ tính từ khi lợn nái bắt đầu biểu hiện chịu đực và cho người nhảy lên lưng. Áp dụng kỹ thuật phối kép 2 lần cách nhau 10 đến 12 giờ sẽ bảo đảm tinh trùng có mặt tại vòi dẫn trứng đúng thời điểm trứng rụng rộ, nâng tỷ lệ thụ thai lên trên 95%.

Năng suất sinh sản của lợn nái biến động qua các lứa đẻ theo quy luật nào? Năng suất sinh sản thường ở mức thấp nhất tại lứa 1 do cơ thể nái chưa hoàn thiện kích thước tử cung, sau đó tăng mạnh và duy trì mức cao ổn định từ lứa 2 đến lứa 5 với số con sơ sinh sống trên 11 con mỗi ổ. Từ lứa đẻ thứ 6 trở đi, năng suất bắt đầu giảm do chức năng buồng trứng và khả năng tiết sữa suy giảm.

Cần áp dụng chế độ dinh dưỡng thế nào cho lợn hậu bị để rút ngắn tuổi phối giống lần đầu? Giai đoạn từ 40 đến 80 kg cần cho ăn tự do để phát triển thể vóc, sau đó chuyển sang ăn hạn chế 2,0 kg mỗi ngày với khẩu phần chứa 14% protein thô và 2.900 kcal ME/kg để tránh tích mỡ. Trước ngày phối giống dự kiến 14 ngày, cần áp dụng chế độ bồi thực nâng lượng ăn lên 3,0 kg mỗi ngày để kích thích nang noãn phát triển tối đa.

Kết luận

  • Cả ba dòng nái ông bà Landrace, Yorkshire và VCN11 đều thể hiện khả năng thích nghi và sức sản xuất sinh sản rất tốt tại Thái Bình với số con sơ sinh sống bình quân đạt trên 10,9 con mỗi ổ.
  • Lợn nái Yorkshire cho khối lượng sơ sinh toàn ổ cao nhất đạt 15,04 kg, trong khi lợn nái VCN11 có ưu thế vượt trội về hiệu quả sử dụng thức ăn với 6,37 kg trên một kg lợn cai sữa.
  • Lứa đẻ thứ 3 đến thứ 5 là giai đoạn đạt đỉnh cao về năng suất sinh sản, đồng thời vụ Đông - Xuân mang lại các chỉ số khối lượng và sức sống đàn con cao hơn rõ rệt so với vụ Hè - Thu.
  • Đàn con lai sau cai sữa đến 60 ngày tuổi đạt tốc độ tăng trưởng nhanh với hệ số tiêu tốn thức ăn FCR lý tưởng, dao động ở mức 1,17 đến 1,26 kg thức ăn trên một kg tăng trọng.
  • Ứng dụng quy trình bồi thực trước phối giống kết hợp kỹ thuật phối kép là giải pháp công nghệ then chốt giúp hạ thấp tuổi đẻ lứa đầu xuống mức 353,70 đến 364,40 ngày.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện, xác thực về các tổ hợp lai lợn ông bà, tạo cơ sở thực tiễn để các đơn vị sản xuất chủ động cung ứng nguồn nái bố mẹ chất lượng cao. Trong các quý tiếp theo của năm 2017, các cơ sở chăn nuôi cần đẩy mạnh việc nâng cấp hệ thống làm mát chuồng kín và chuẩn hóa định mức dinh dưỡng phân kỳ. Các doanh nghiệp và trang trại nên áp dụng ngay các công thức lai và giải pháp kỹ thuật từ công trình này để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và phát triển chăn nuôi bền vững.