Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học xác định khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ meloidogyne spp của các chủng nấm phân lập từ đất nông nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp công nghệ sinh học xác định khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ meloidogyne spp của, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

56
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

XÁC NHẬN VÀ CAM ĐOAN

TÓM TẮT

1. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Kiểm soát sinh học đối với tuyến trùng ký sinh thực vật bởi nấm

2.2. Sơ lược về nấm Paecilomyces spp.

2.2.1. Vị trí phân loại

2.2.2. Đặc điểm hình thái của nấm Paecilomyces spp.

2.2.3. Nghiên cứu về tác động của nấm Paecilomyces spp. lên Meloidogyne spp.

2.3. Sơ lược về nấm Penicillium spp.

2.3.1. Vị trí phân loại

2.3.2. Đặc điểm hình thái của nấm Penicillium spp.

3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1. Mẫu thí nghiệm

3.2. Thiết bị, dụng cụ

3.3. Phương pháp thu thập, xử lý và bảo quản mẫu

3.4. Phương pháp phân lập nấm ký sinh tuyến trùng từ đất

3.5. Phương pháp định danh hình thái các mẫu nấm

3.6. Phương pháp thử nghiệm trong phòng thí nghiệm

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nhận dạng chủng nấm

4.1.1. Đặc điểm hình thái Nhóm I

4.1.2. Đặc điểm hình thái Nhóm II

4.1.3. Đặc điểm hình thái Nhóm III

4.1.4. Đặc điểm hình thái Nhóm IV

4.1.5. Đặc điểm hình thái Nhóm V

4.1.6. Đặc điểm hình thái Nhóm VI

4.1.7. Đặc điểm hình thái Nhóm VII

4.1.8. Đặc điểm hình thái Nhóm VIII

4.2. Kết quả thử nghiệm khả năng bất động J2 Meloidogyne spp. của các chủng nấm trong điều kiện phòng thí nghiệm

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khả Năng Kiểm Soát Tuyến Trùng Bướu Rễ Meloidogyne spp

Khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. là một vấn đề quan trọng trong nông nghiệp hiện đại. Tuyến trùng này gây thiệt hại lớn cho cây trồng, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nông sản. Việc tìm kiếm các phương pháp kiểm soát hiệu quả, đặc biệt là thông qua các chủng nấm từ đất nông nghiệp, đang trở thành xu hướng nghiên cứu chính. Nghiên cứu này nhằm xác định các chủng nấm có khả năng kiểm soát sinh học đối với Meloidogyne spp., từ đó góp phần bảo vệ cây trồng và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

1.1. Tại Sao Meloidogyne spp. Là Mối Đe Dọa Đối Với Nông Nghiệp

Meloidogyne spp. là một trong những loài tuyến trùng gây hại nghiêm trọng nhất cho cây trồng. Chúng có khả năng sinh sản nhanh chóng và dễ dàng lây lan, gây ra thiệt hại lớn cho năng suất cây trồng. Theo Abad và cộng sự (2003), loài này có thể ký sinh trên hơn 3.000 loài thực vật, làm giảm đáng kể năng suất nông sản.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Về Kiểm Soát Tuyến Trùng Bướu Rễ

Nghiên cứu về kiểm soát tuyến trùng bướu rễ đã được thực hiện từ nhiều thập kỷ qua. Các phương pháp hóa học truyền thống đang dần bị hạn chế do tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Do đó, việc phát triển các phương pháp kiểm soát sinh học, đặc biệt là sử dụng nấm, đang được chú trọng.

II. Vấn Đề Kiểm Soát Tuyến Trùng Bướu Rễ Trong Nông Nghiệp

Kiểm soát tuyến trùng bướu rễ là một thách thức lớn trong nông nghiệp hiện đại. Việc sử dụng hóa chất diệt tuyến trùng không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Theo Medina-Canales và cộng sự (2019), việc áp dụng các biện pháp sinh học như nấm có thể là giải pháp bền vững hơn. Nghiên cứu này sẽ phân tích các thách thức và cơ hội trong việc kiểm soát Meloidogyne spp. bằng nấm.

2.1. Những Thách Thức Trong Kiểm Soát Tuyến Trùng

Một trong những thách thức lớn nhất là sự kháng thuốc của tuyến trùng đối với các loại hóa chất. Điều này dẫn đến việc cần thiết phải tìm kiếm các phương pháp thay thế hiệu quả hơn. Hơn nữa, sự đa dạng sinh học của Meloidogyne spp. cũng làm cho việc kiểm soát trở nên phức tạp.

2.2. Cơ Hội Từ Việc Sử Dụng Nấm Trong Kiểm Soát

Việc sử dụng nấm như một phương pháp kiểm soát sinh học mang lại nhiều cơ hội. Nấm có khả năng ký sinh và tiêu diệt tuyến trùng, đồng thời không gây hại cho cây trồng. Nghiên cứu cho thấy rằng một số chủng nấm có thể giảm thiểu sự phát triển của Meloidogyne spp. một cách hiệu quả.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Khả Năng Kiểm Soát Tuyến Trùng Bằng Nấm

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp phân lập và đánh giá hiệu quả của các chủng nấm từ đất nông nghiệp. Các mẫu đất được thu thập từ nhiều vùng khác nhau và tiến hành phân lập nấm. Sau đó, các chủng nấm sẽ được thử nghiệm trong điều kiện phòng thí nghiệm để xác định khả năng kiểm soát Meloidogyne spp.

3.1. Quy Trình Phân Lập Nấm Từ Đất

Quy trình phân lập nấm bắt đầu bằng việc thu thập mẫu đất từ các vườn cây trồng. Sau đó, nấm được phân lập bằng phương pháp Baermann. Kết quả cho thấy có nhiều chủng nấm khác nhau có khả năng kiểm soát tuyến trùng.

3.2. Đánh Giá Hiệu Quả Kiểm Soát Của Các Chủng Nấm

Các chủng nấm được thử nghiệm trong điều kiện phòng thí nghiệm để đánh giá khả năng kiểm soát Meloidogyne spp. Kết quả cho thấy một số chủng nấm có hiệu quả cao trong việc làm giảm sự di chuyển và sinh sản của tuyến trùng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Khả Năng Kiểm Soát Tuyến Trùng Bằng Nấm

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số chủng nấm như Paracremonium sp. và Paecilomyces spp. có khả năng kiểm soát sinh học đối với Meloidogyne spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm. Các chủng này đã cho thấy hiệu quả cao trong việc làm bất động tuyến trùng, với tỷ lệ lên đến 76,5%.

4.1. Hiệu Quả Của Paracremonium sp.

Paracremonium sp. cho thấy hiệu quả cao trong việc làm bất động tuyến trùng với tỷ lệ 76,5%. Nghiên cứu cho thấy rằng nấm này có khả năng sản sinh các hợp chất diệt tuyến trùng, góp phần vào khả năng kiểm soát sinh học.

4.2. Hiệu Quả Của Paecilomyces spp.

Paecilomyces spp. cũng cho thấy hiệu quả kiểm soát tốt, với tỷ lệ từ 28,5% đến 60%. Các cơ chế kiểm soát của nấm này đang được nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tác động của chúng đối với tuyến trùng.

V. Kết Luận Về Khả Năng Kiểm Soát Tuyến Trùng Bướu Rễ

Nghiên cứu đã xác định được một số chủng nấm có khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. Việc áp dụng các chủng nấm này trong thực tiễn có thể giúp giảm thiểu thiệt hại do tuyến trùng gây ra, đồng thời bảo vệ môi trường. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục tìm kiếm các chủng nấm mới và phát triển các phương pháp kiểm soát sinh học hiệu quả hơn.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Kiểm Soát Tuyến Trùng

Nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rộng để tìm kiếm thêm các chủng nấm có khả năng kiểm soát tuyến trùng. Việc phát triển các sản phẩm sinh học từ nấm có thể là một giải pháp bền vững cho nông nghiệp.

5.2. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong thực tiễn để kiểm soát Meloidogyne spp. Việc sử dụng nấm trong nông nghiệp không chỉ giúp bảo vệ cây trồng mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học xác định khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ meloidogyne spp của các chủng nấm phân lập từ đất nông nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Thách thức lớn trên toàn thế giới trong những năm tới là đảm bảo an ninh lương thực nuôi sông dân số đang ngày càng gia tăng. Tuy nhiên việc sử dụng đất canh tác cho mục đích phi nông nghiệp và suy thoái đất do xói mòn, nhiễm mặn, sa mạc hóa dẫn đến đất canh tác ngày càng giảm. Thêm vào đó tuyến trùng ký sinh thực vật là mối đe dọa lớn đối với nông nghiệp, gây thiệt hại năng suất hàng năm ước tính trên 100 tỷ USD trên toàn thế giới (Thoden va ctv, 2011). Trong số các loài tuyến trùng ký sinh thực vật, nhóm hạn chế năng suất nhất là tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.

Đây là loài nội ký sinh cô định bắt buộc có thể đễ dàng sinh sản trong rễ của hơn 3.000 loài thực vật (Abad và ctv, 2003). Chúng phô biến rộng rãi trên toàn thé giới và số lượng của chúng trong đất dé dang tăng lên trong điều kiện thích hợp. hapla là bén loài thường thấy chiếm tới 95% tổng số tuyến trùng bướu rễ (Dong và ctv, 2012). Áp dụng thuốc diét tuyến trùng vẫn là chiến lược quan lý ngắn hạn phổ biến nhất chống lại tuyến trùng bướu rễ (Medina-Canales và ctv, 2019); tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, một số hóa chất như methyl bromide và aldicarb đã bị rút khỏi thị trường đo lo ngại về môi trường và sức khỏe con người cũng như độc tính đối với các sinh vật không phải mục tiêu (Kim và ctv, 2018; Xiang và ctv, 2018).

Từ đó, đã làm tăng đáng ké nhu cau phát triển các tác nhân phòng trừ sinh học trong bảo vệ thực vật. Việc áp dụng vi sinh vật nắm dé quản lý tuyến trùng bướu rễ cũng như các loài gây hai nông nghiệp khác đã được tiến hành trong nhiều thập kỷ. Có khoảng 700 loài nắm đa dạng về mặt phân loại có khả năng tấn công tuyến trùng sống (ấu trùng, con trưởng thành và trứng) va sử dụng chúng làm nguồn đinh dưỡng. Một số chi nam quan trọng nhất bao gồm Paecilomyces (Shahriyar và Monjil, 2019); Verticillium (Regaieg va ctv, 2010); Trichoderma (YariqJaveed va ctv, 2021); Arthrobotrys (Niu va Zhang, 2011); Penicillium (Sikandar va ctv, 2020; Nguyen va ctv, 2021).

Mục tiêu đề tài Xác định được một số chủng nam có kha nang kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. Nội dung thực hiện Thu thập mẫu đất và phân lập nắm ký sinh tuyến trùng. Định danh hình thái các mẫu đã phân lập. Đánh giá khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.

của các mẫu đã phân lập trong điều kiện phòng thí nghiệm. TÔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Kiểm soát sinh học đối với tuyến trùng ký sinh thực vật bởi nắm Tuyến trùng ký sinh thực vật gây thiệt hại nặng nề trên cây trồng. Nematicides, hóa chat được sử dụng dé kiểm soát tuyến trùng ký sinh thực vật, thường là những hợp chat độc hại gây ra các vấn đề ô nhiễm môi trường và sức khoẻ.

Một số loại thuốc diệt tuyến trùng này đã bị cắm ở nhiều quốc gia và quá trình hiện nay nhằm loại bỏ dần chất làm suy giảm tầng ozone (Nordmeyer 1992). Do đó, khả năng sử dụng nắm đề kiểm soát sinh học đối với tuyến trùng ký sinh thực vật là cần thiết. Theo Stirling (1991), kiểm soát sinh học là việc giảm quần thể tuyến trùng được thực hiện thông qua hoạt động của các sinh vật sống không phải là cây chủ kháng tuyến trùng, xảy ra một cách tự nhiên hoặc thông qua thao tác của môi trường hoặc đưa vào các chất đối kháng. Trong số các vi sinh vật ký sinh hoặc săn môi tuyến trùng, nắm giữ một vị trí quan trọng và cho thấy tiềm năng lớn như tác nhân kiểm soát sinh học (Jatala, 1986; Stirling, 1991).

Jatala (1986) đã mô tả 16 thuộc tính mong muốn của một tác nhân phòng trừ sinh học thành công, nhưng theo Kim và Riggs (1992) đặc điểm của các tác nhân phòng trừ sinh học tốt là: (1) có khả năng ký sinh cao đối với tuyến trùng, (ii) phạm vi ký chủ chủ yếu là tuyến trùng nhưng không gây bệnh cho cây trồng hoặc động vật bậc cao, (iii) sinh trưởng ở phạm vi pH và nhiệt độ thích hợp, (iv) sinh trưởng trên môi trường nhân tao, (v) có thể xác định được và với phương thức hoạt động đã biết, (vi) có thé được bào chế ở dạng có thể sử dụng được; nên xem xét sự cạnh tranh với các vi sinh vật đất khác. Các loại nam liên quan đến việc kiểm soát tuyến trùng có ba loại: ăn thịt, ky sinh và đối kháng. Những loại nam nay có thé được nhóm lại thành nắm nội ký sinh, nắm săn môi và nam cơ hội. Một số chi nam quan trọng được biết đến làm giảm sự nhân lên của tuyến trùng do ăn thịt, ký sinh hoặc đối khang là Aspergillus (Zuckerman và ctv, 1994), Arthrobotrys (Villanueva va Davide, 1983), Cladosporium (Roessner, 1987), Paecilomyces (Shahriyar va Monjil, 2019); Verticillium (Regaieg va ctv, 2010); Trichoderma (TariqJaveed va ctv, 2021); Arthrobotrys (Niu va Zhang, 2011); Penicillium (Sikandar va ctv, 2020; Nguyen va ctv, 2021).

Sơ lược về nam Paecilomyces spp. Vị trí phần loại Paecilomyces là một chi nam của Ngành - Ascomycota, Lớp - Sordariomycetes, Bộ - Hypocreales và Họ - Ophiocordycipitaceae 2. Đặc điểm hình thái của nắm Paecilomyces spp. Các tan nắm thường phát triển nhanh, chỉ một số chủng P.

variofii phát triển hạn chế. Mau sắc của tan nam đôi khi có thé bị ảnh hưởng bởi màu sắc của quả thé, vi dụ: màu hồng ở P. byssochlamydoides hoặc màu vàng lục ở P. Các tan nam của P.

niveus có màu trắng đến kem. Các thể bình có thé có hình dạng khác nhau, nhưng hau hết chúng có phan đáy hình trụ thuôn nhọn đột ngột thành cổ hình trụ dài. Ở một số chủng P. variotii, thể bình có thể phòng lên mạnh mẽ và đôi khi có thê sinh sôi nảy nở theo chiều ngang.

Tuy nhiên, những sự gia tăng này không phải là một tính chất cố định. Đặc điểm này được coi là sự phát triển không điển hình của một số chủng. Bào tử thường được tạo ra trong các chuỗi dai phân kỳ và có thé tạo thành các chủng có bao tử đổi đào và các bao tử dày đặc. Hình dạng của bào tử rất khác nhau, đặc biệt là ở P.

variotii, tùy thuộc vào tuéi tan nắm và mức độ sinh bao tử. Bao tử nhỏ hơn được tạo ra ở các chủng bào tử đôi dao, trong khi conidia lớn hơn có thé được quan sát thấy trong các điều kiện ít thích hợp hơn. Bao tử chống chịu được sản sinh ở P. marquandii khác với Purpureocillium lilacinum ở các cành bao tử trong suốt và mặt dưới tan nắm có màu vàng điển hình.

Mặc dù cả hai loài đều có hình thái tương tự nhau, nhưng phát sinh loài cho thấy chúng được tách ra thành hai họ thuộc bộ Hypocreales. Các tan nam của P. Jilacinum trên MEA phát triển nhanh, đạt đường kính 25 - 35 mm sau 7 ngày 6 25°C; không hoặc tăng trưởng hạn chế 6 37°C, 0 - 10 mm. Cành bao tử phát sinh từ sợi nam chìm có chiều dai 4 - 6 pum, thân có thành day xù xì rộng 3 - 4 pm bao gồm các nhánh có hình trụ với các vòng xoắn từ hai đến bốn thé bình.

Thể bình 6 - 9 x 2,5 - 3 um, có phan đáy phòng lên thuôn nhọn thành một cô ngắn rõ rệt rộng khoảng 1 pm. Bào tử xếp thành các chuỗi khác nhau, hình elip đến hình thoi, vách nhẫn đến hơi nhám, trong suốt, màu tím với số lượng lớn, 2 - 3 x 2 - 4 um (Luangsa-Ard và ctv, 2011). Nghiên cứu về tác động của nắm Paecilomyces spp. lên Meloidogyne spp.

lilacinus được biết là tốt hơn P. variotii trong việc giảm trứng của Meloidogyne spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm (Ahmad và ctv, 2019). Trong những năm gần đây, các hợp chất đối kháng hoặc gây độc cho tuyến trùng; ví dụ như độc tố, enzym hoặc hợp chất có nguồn gốc từ các chất chuyên hóa của địch lọc nuôi cấy nam đã tăng lên rất nhiều.

Trong đó, 6-oxychitin là chất thúc day khả năng diệt tuyến trùng của Purpureocillium lilacinum tốt hơn so với các dẫn xuất chitin tan trong nước khác. Sau khi điều trị, sự di chuyên của J2 và trứng nở rõ ràng đã bị ức chế. Các thí nghiệm thực vật khác cho thấy nó có thé phá hủy sự tích tụ và xâm lấn của tuyến trùng, đồng thời có tác dụng thúc day tăng trưởng (Zhan và ctv, 2021). Bên cạnh đó sự kết hợp của abamectin và/hoặc emamectin benzoate với P.

lilacinum và vi khuẩn vùng rễ hiệu quả nhất đối với M. incognita, tiếp theo là vi khuẩn vùng rễ và P. lilacinum, chúng không chỉ làm giảm số bướu rễ và sinh sản của M. incognita mà còn làm tăng sự phát triển của cây cà chua hơn so với đối chứng (El-Ashry và ctv, 2021).

Chiết xuất Paecilomyces variotii (PVE) đã được xác định là chất kích thích tăng trưởng thực vật, quan thé M. incognita trong đất và trong rễ dua chuột sau khi xử lý bang PVE đã giảm đáng ké và sự phát triển của tuyến trùng bị ức chế đáng kê (Fu và ctv, 2023). Paecilomyces tenuis được báo cáo lần đầu tiên về khả năng kiểm soát đối với M. incognita, cùng với việc sử dung Caenorhabditis elegans làm mồi nhử dé phân lập nam, nó làm giảm đáng kể khả năng nở của trứng và sự xâm nhập vào rễ của M.

Paecilomyces tenuis phan lập từ dat vùng rễ đã được phát hiện có tỷ lệ tử vong > 90% đối với âu trùng giai đoạn hai sau 24 giờ tiếp xúc với dich lọc nam. Dịch lọc của nam cũng làm giảm đáng kề tỷ lệ nở trứng và sự xâm nhập vào rễ vật chủ của M. incognita trong điều kiện in vitro và in vivo cho thấy hiệu quả của nó trong việc hạn chế khả năng gây bệnh của tuyến trùng với tác động tích cực đến sự phát triển của cây trồng. Hơn nữa, nam này tạo ra các hợp chất diệt tuyến trùng khác bao gồm cả axit axetic.

Sơ lược về nam Penicillium spp. Vị trí phần loại Penicillium là một chi nam thuộc ngành Ascomycota, Lớp - Eurotiomycetes, Bộ - Eurotiales và Họ - Trichocomaceae 2. Đặc điểm hình thái của nam Penicillium spp. Tan nắm ban đầu có màu trắng và dan dần chuyền sang màu xanh lam, xanh xám, xám ô liu, vàng hoặc hơi hồng.

Bảo tử có hình tròn và đơn bào. Penicillium sinh sản vô tính. Các loài được phân loại dựa trên cách sản xuất bào tử. Ở một số loài, bao tử được sinh ra trên các thé bình.

Ở những loài khác, cành bao tử mang metullae, nơi sinh ra các thé bình. Ở các loài khác, bào tử có thể phân nhánh trước khi mang metullae.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Khả Năng Kiểm Soát Tuyến Trùng Bướu Rễ Meloidogyne spp. Bằng Các Chủng Nấm Từ Đất Nông Nghiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng các chủng nấm từ đất nông nghiệp để kiểm soát tuyến trùng bướu rễ, một trong những tác nhân gây hại nghiêm trọng cho cây trồng. Tài liệu nêu rõ các phương pháp nghiên cứu, kết quả thử nghiệm và lợi ích của việc áp dụng biện pháp sinh học này trong nông nghiệp, giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào hóa chất độc hại và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp kiểm soát sinh học khác, bạn có thể tham khảo tài liệu "Nghiên cứu tuyển chọn bacillus thuringiensis kiểm soát tuyến trùng trên cây cà chua", nơi trình bày về việc sử dụng vi khuẩn Bacillus thuringiensis trong việc kiểm soát tuyến trùng. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn sản xuất trichoderma spp làm thuốc trừ nấm bệnh cây trồng" cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về việc sản xuất nấm Trichoderma như một biện pháp bảo vệ cây trồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Phân lập tuyển chọn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc mốc trắng trên cây lạc", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chủng vi khuẩn có khả năng kháng bệnh cho cây trồng.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các giải pháp thực tiễn cho vấn đề kiểm soát dịch hại trong nông nghiệp.