Đặt vấn đề Thách thức lớn trên toàn thế giới trong những năm tới là đảm bảo an ninh lương thực nuôi sông dân số đang ngày càng gia tăng. Tuy nhiên việc sử dụng đất canh tác cho mục đích phi nông nghiệp và suy thoái đất do xói mòn, nhiễm mặn, sa mạc hóa dẫn đến đất canh tác ngày càng giảm. Thêm vào đó tuyến trùng ký sinh thực vật là mối đe dọa lớn đối với nông nghiệp, gây thiệt hại năng suất hàng năm ước tính trên 100 tỷ USD trên toàn thế giới (Thoden va ctv, 2011). Trong số các loài tuyến trùng ký sinh thực vật, nhóm hạn chế năng suất nhất là tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Đây là loài nội ký sinh cô định bắt buộc có thể đễ dàng sinh sản trong rễ của hơn 3.000 loài thực vật (Abad và ctv, 2003). Chúng phô biến rộng rãi trên toàn thé giới và số lượng của chúng trong đất dé dang tăng lên trong điều kiện thích hợp. hapla là bén loài thường thấy chiếm tới 95% tổng số tuyến trùng bướu rễ (Dong và ctv, 2012). Áp dụng thuốc diét tuyến trùng vẫn là chiến lược quan lý ngắn hạn phổ biến nhất chống lại tuyến trùng bướu rễ (Medina-Canales và ctv, 2019); tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, một số hóa chất như methyl bromide và aldicarb đã bị rút khỏi thị trường đo lo ngại về môi trường và sức khỏe con người cũng như độc tính đối với các sinh vật không phải mục tiêu (Kim và ctv, 2018; Xiang và ctv, 2018).
Từ đó, đã làm tăng đáng ké nhu cau phát triển các tác nhân phòng trừ sinh học trong bảo vệ thực vật. Việc áp dụng vi sinh vật nắm dé quản lý tuyến trùng bướu rễ cũng như các loài gây hai nông nghiệp khác đã được tiến hành trong nhiều thập kỷ. Có khoảng 700 loài nắm đa dạng về mặt phân loại có khả năng tấn công tuyến trùng sống (ấu trùng, con trưởng thành và trứng) va sử dụng chúng làm nguồn đinh dưỡng. Một số chi nam quan trọng nhất bao gồm Paecilomyces (Shahriyar và Monjil, 2019); Verticillium (Regaieg va ctv, 2010); Trichoderma (YariqJaveed va ctv, 2021); Arthrobotrys (Niu va Zhang, 2011); Penicillium (Sikandar va ctv, 2020; Nguyen va ctv, 2021).
Mục tiêu đề tài Xác định được một số chủng nam có kha nang kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. Nội dung thực hiện Thu thập mẫu đất và phân lập nắm ký sinh tuyến trùng. Định danh hình thái các mẫu đã phân lập. Đánh giá khả năng kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
của các mẫu đã phân lập trong điều kiện phòng thí nghiệm. TÔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Kiểm soát sinh học đối với tuyến trùng ký sinh thực vật bởi nắm Tuyến trùng ký sinh thực vật gây thiệt hại nặng nề trên cây trồng. Nematicides, hóa chat được sử dụng dé kiểm soát tuyến trùng ký sinh thực vật, thường là những hợp chat độc hại gây ra các vấn đề ô nhiễm môi trường và sức khoẻ.
Một số loại thuốc diệt tuyến trùng này đã bị cắm ở nhiều quốc gia và quá trình hiện nay nhằm loại bỏ dần chất làm suy giảm tầng ozone (Nordmeyer 1992). Do đó, khả năng sử dụng nắm đề kiểm soát sinh học đối với tuyến trùng ký sinh thực vật là cần thiết. Theo Stirling (1991), kiểm soát sinh học là việc giảm quần thể tuyến trùng được thực hiện thông qua hoạt động của các sinh vật sống không phải là cây chủ kháng tuyến trùng, xảy ra một cách tự nhiên hoặc thông qua thao tác của môi trường hoặc đưa vào các chất đối kháng. Trong số các vi sinh vật ký sinh hoặc săn môi tuyến trùng, nắm giữ một vị trí quan trọng và cho thấy tiềm năng lớn như tác nhân kiểm soát sinh học (Jatala, 1986; Stirling, 1991).
Jatala (1986) đã mô tả 16 thuộc tính mong muốn của một tác nhân phòng trừ sinh học thành công, nhưng theo Kim và Riggs (1992) đặc điểm của các tác nhân phòng trừ sinh học tốt là: (1) có khả năng ký sinh cao đối với tuyến trùng, (ii) phạm vi ký chủ chủ yếu là tuyến trùng nhưng không gây bệnh cho cây trồng hoặc động vật bậc cao, (iii) sinh trưởng ở phạm vi pH và nhiệt độ thích hợp, (iv) sinh trưởng trên môi trường nhân tao, (v) có thể xác định được và với phương thức hoạt động đã biết, (vi) có thé được bào chế ở dạng có thể sử dụng được; nên xem xét sự cạnh tranh với các vi sinh vật đất khác. Các loại nam liên quan đến việc kiểm soát tuyến trùng có ba loại: ăn thịt, ky sinh và đối kháng. Những loại nam nay có thé được nhóm lại thành nắm nội ký sinh, nắm săn môi và nam cơ hội. Một số chi nam quan trọng được biết đến làm giảm sự nhân lên của tuyến trùng do ăn thịt, ký sinh hoặc đối khang là Aspergillus (Zuckerman và ctv, 1994), Arthrobotrys (Villanueva va Davide, 1983), Cladosporium (Roessner, 1987), Paecilomyces (Shahriyar va Monjil, 2019); Verticillium (Regaieg va ctv, 2010); Trichoderma (TariqJaveed va ctv, 2021); Arthrobotrys (Niu va Zhang, 2011); Penicillium (Sikandar va ctv, 2020; Nguyen va ctv, 2021).
Sơ lược về nam Paecilomyces spp. Vị trí phần loại Paecilomyces là một chi nam của Ngành - Ascomycota, Lớp - Sordariomycetes, Bộ - Hypocreales và Họ - Ophiocordycipitaceae 2. Đặc điểm hình thái của nắm Paecilomyces spp. Các tan nắm thường phát triển nhanh, chỉ một số chủng P.
variofii phát triển hạn chế. Mau sắc của tan nam đôi khi có thé bị ảnh hưởng bởi màu sắc của quả thé, vi dụ: màu hồng ở P. byssochlamydoides hoặc màu vàng lục ở P. Các tan nam của P.
niveus có màu trắng đến kem. Các thể bình có thé có hình dạng khác nhau, nhưng hau hết chúng có phan đáy hình trụ thuôn nhọn đột ngột thành cổ hình trụ dài. Ở một số chủng P. variotii, thể bình có thể phòng lên mạnh mẽ và đôi khi có thê sinh sôi nảy nở theo chiều ngang.
Tuy nhiên, những sự gia tăng này không phải là một tính chất cố định. Đặc điểm này được coi là sự phát triển không điển hình của một số chủng. Bào tử thường được tạo ra trong các chuỗi dai phân kỳ và có thé tạo thành các chủng có bao tử đổi đào và các bao tử dày đặc. Hình dạng của bào tử rất khác nhau, đặc biệt là ở P.
variotii, tùy thuộc vào tuéi tan nắm và mức độ sinh bao tử. Bao tử nhỏ hơn được tạo ra ở các chủng bào tử đôi dao, trong khi conidia lớn hơn có thé được quan sát thấy trong các điều kiện ít thích hợp hơn. Bao tử chống chịu được sản sinh ở P. marquandii khác với Purpureocillium lilacinum ở các cành bao tử trong suốt và mặt dưới tan nắm có màu vàng điển hình.
Mặc dù cả hai loài đều có hình thái tương tự nhau, nhưng phát sinh loài cho thấy chúng được tách ra thành hai họ thuộc bộ Hypocreales. Các tan nam của P. Jilacinum trên MEA phát triển nhanh, đạt đường kính 25 - 35 mm sau 7 ngày 6 25°C; không hoặc tăng trưởng hạn chế 6 37°C, 0 - 10 mm. Cành bao tử phát sinh từ sợi nam chìm có chiều dai 4 - 6 pum, thân có thành day xù xì rộng 3 - 4 pm bao gồm các nhánh có hình trụ với các vòng xoắn từ hai đến bốn thé bình.
Thể bình 6 - 9 x 2,5 - 3 um, có phan đáy phòng lên thuôn nhọn thành một cô ngắn rõ rệt rộng khoảng 1 pm. Bào tử xếp thành các chuỗi khác nhau, hình elip đến hình thoi, vách nhẫn đến hơi nhám, trong suốt, màu tím với số lượng lớn, 2 - 3 x 2 - 4 um (Luangsa-Ard và ctv, 2011). Nghiên cứu về tác động của nắm Paecilomyces spp. lên Meloidogyne spp.
lilacinus được biết là tốt hơn P. variotii trong việc giảm trứng của Meloidogyne spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm (Ahmad và ctv, 2019). Trong những năm gần đây, các hợp chất đối kháng hoặc gây độc cho tuyến trùng; ví dụ như độc tố, enzym hoặc hợp chất có nguồn gốc từ các chất chuyên hóa của địch lọc nuôi cấy nam đã tăng lên rất nhiều.
Trong đó, 6-oxychitin là chất thúc day khả năng diệt tuyến trùng của Purpureocillium lilacinum tốt hơn so với các dẫn xuất chitin tan trong nước khác. Sau khi điều trị, sự di chuyên của J2 và trứng nở rõ ràng đã bị ức chế. Các thí nghiệm thực vật khác cho thấy nó có thé phá hủy sự tích tụ và xâm lấn của tuyến trùng, đồng thời có tác dụng thúc day tăng trưởng (Zhan và ctv, 2021). Bên cạnh đó sự kết hợp của abamectin và/hoặc emamectin benzoate với P.
lilacinum và vi khuẩn vùng rễ hiệu quả nhất đối với M. incognita, tiếp theo là vi khuẩn vùng rễ và P. lilacinum, chúng không chỉ làm giảm số bướu rễ và sinh sản của M. incognita mà còn làm tăng sự phát triển của cây cà chua hơn so với đối chứng (El-Ashry và ctv, 2021).
Chiết xuất Paecilomyces variotii (PVE) đã được xác định là chất kích thích tăng trưởng thực vật, quan thé M. incognita trong đất và trong rễ dua chuột sau khi xử lý bang PVE đã giảm đáng ké và sự phát triển của tuyến trùng bị ức chế đáng kê (Fu và ctv, 2023). Paecilomyces tenuis được báo cáo lần đầu tiên về khả năng kiểm soát đối với M. incognita, cùng với việc sử dung Caenorhabditis elegans làm mồi nhử dé phân lập nam, nó làm giảm đáng kể khả năng nở của trứng và sự xâm nhập vào rễ của M.
Paecilomyces tenuis phan lập từ dat vùng rễ đã được phát hiện có tỷ lệ tử vong > 90% đối với âu trùng giai đoạn hai sau 24 giờ tiếp xúc với dich lọc nam. Dịch lọc của nam cũng làm giảm đáng kề tỷ lệ nở trứng và sự xâm nhập vào rễ vật chủ của M. incognita trong điều kiện in vitro và in vivo cho thấy hiệu quả của nó trong việc hạn chế khả năng gây bệnh của tuyến trùng với tác động tích cực đến sự phát triển của cây trồng. Hơn nữa, nam này tạo ra các hợp chất diệt tuyến trùng khác bao gồm cả axit axetic.
Sơ lược về nam Penicillium spp. Vị trí phần loại Penicillium là một chi nam thuộc ngành Ascomycota, Lớp - Eurotiomycetes, Bộ - Eurotiales và Họ - Trichocomaceae 2. Đặc điểm hình thái của nam Penicillium spp. Tan nắm ban đầu có màu trắng và dan dần chuyền sang màu xanh lam, xanh xám, xám ô liu, vàng hoặc hơi hồng.
Bảo tử có hình tròn và đơn bào. Penicillium sinh sản vô tính. Các loài được phân loại dựa trên cách sản xuất bào tử. Ở một số loài, bao tử được sinh ra trên các thé bình.
Ở những loài khác, cành bao tử mang metullae, nơi sinh ra các thé bình. Ở các loài khác, bào tử có thể phân nhánh trước khi mang metullae.