Đặt vấn đề Cây Lạc (Arachis hypogaea L.) hay có tên gọi khác là đậu phộng là một loại cây họ đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ. Lạc dễ trồng và có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, từ khí hậu ôn đới tới nhiệt đới và đƣợc coi là một trong những cây nông nghiệp có giá trị cao trên nhiều nƣớc. Chúng đƣợc trồng ở 100 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hiện nay, trên đất nƣớc ta chúng đƣợc trồng nhiều ở các vùng Bắc bộ, Trung bộ, Tây Nguyên và Nam bộ mang hiệu quả kinh tế cao cho các cơ sở canh tác, bên cạnh đó còn làm nguyên liệu cho công nghiệp; làm thức ăn cho con ngƣời, gia súc; làm phân bón cũng nhƣ cải tạo đất.
Do đó nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng kiến cho việc đầu tƣ về quy mô sản xuất ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, những năm gần đây việc sản xuất lạc bị ảnh hƣởng nhiều bởi dịch bệnh hại do vi sinh vật gây ra. Vi sinh vật gây bệnh trên cây trồng là một mối đe dọa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp, trong đó nguyên nhân do nấm chiếm đến 80% (El Hussein, 2014). Bệnh do nấm gây ra trên thực vật có thể dẫn đến thiệt hại kinh tế lên tới trên 200 tỷ USD (Horbach & cs.
Sclerotium rolfsii là một trong những loài nấm đất điển hình hại cây lạc, cụ thể là gây bệnh thối gốc lạc, hay còn gọi là bệnh thối gốc mốc trắng (TGMT). Thiệt hại do bệnh TGMT có thể lên đến 80% tùy thuộc vào tỷ lệ nhiễm, thời kỳ nhiễm bệnh của cây lạc cũng nhƣ điều kiện thời tiết khí hậu khi nhiễm bệnh (Mehan & cs, 1994). Nguồn bệnh của nấm tồn tại chủ yếu trong đất, trong tàn dƣ thực vật, cây ký chủ và trong các vật liệu giống nhiễm bệnh dƣới dạng sợi nấm, hạch nấm. Hạch nấm tồn tại từ năm này qua năm khác ở tầng đất bề mặt và là nguồn gây bệnh phổ biến cho các cây trồng vụ sau, năm sau.
Việc phòng trừ nấm Sclerotium rolfsii hiện nay chủ yếu dựa vào biện pháp hóa học. Tuy nhiên biện pháp này không bền vững và gây ảnh hƣởng không tốt 1 đến môi trƣờng. Vì vậy, ứng dụng nguồn vi sinh vật đối kháng trong sản xuất các chế phẩm sinh học nông nghiệp thân thiện với môi trƣờng ngày càng đƣợc quan tâm và phát triển. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về vai trò của xạ khuẩn có hoạt tính kháng nấm vẫn còn hạn chế.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, đề tài “Phân lập, tuyển chọn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc mốc trắng trên cây lạc” đƣợc thực hiện. Mục đích và nội dung nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu - Phân lập đƣợc các chủng nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối mốc trắng trên cây lạc. - Tuyển chọn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh của chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm bệnh.
Đối tƣợng nghiên cứu - Các mẫu cây lạc có biểu hiện bệnh thối gốc mốc trắng đƣợc thu thập từ thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm – Hà Nội và huyện Hƣng Hà – Thái Bình. - Các mẫu đất lấy từ các ruộng trồng lạc tại tỉnh Thái Bình. Nội dung nghiên cứu - Phân lập và định danh các chủng nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc mốc trắng trên cây lạc - Tuyển chọn các chủng xạ khuẩn đối kháng với nấm Sclerotium rolfsii - Đánh giá ảnh hƣởng của dịch nuôi chủng xạ khuẩn tuyển chọn đến sinh trƣởng của nấm Sclerotium rolfsii - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn tuyển chọn 2 PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về cây lạc Cây lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao. Ở Việt Nam, lạc đƣợc trồng từ lâu đời và là cây lấy dầu đứng thứ nhất về diện tích, sản lƣợng và xuất khẩu, hàng năm đóng góp khá lớn vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông sản của nƣớc ta. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam a. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới Theo số liệu thống kê của tổ chức FAOSTAT (2022), trong giai đoạn 2010 – 2020, diện tích và sản lƣợng lạc trên toàn thế giới tăng dần theo từng năm (hình 2.
Tính đến 2020, tổng diện tích canh tác lạc trên toàn thế giới là 31.626 triệu ha, với sản lƣợng đạt 53. Nguồn: FAOSTAT, 2022 Hình 2. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới giai đoạn 2010 – 2020 3 Nguồn: FAOSTAT, 2022 Hình 2. Tình hình sản xuất lạc năm 2020 của 3 nƣớc có sản lƣợng lớn nhất (Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria) Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria luôn là 3 nƣớc dẫn đầu về diện tích canh tác và sản lƣợng lạc trên thế giới.
Tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam Lạc đƣợc trồng ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nƣớc từ Bắc tới Nam với 6 v ng sản xuất lạc chính là v ng đồng bằng sông Hồng, v ng Đông Bắc, v ng duyên hải Bắc Trung Bộ, v ng duyên hải Nam Trung Bộ, v ng Tây Nguyên, v ng Đông Nam Bộ, tổng cộng có 53 địa phƣơng trồng lạc, trong đó những tỉnh có diện tích trồng lớn nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa. Việt Nam là nƣớc có diện tích trồng lạc đứng thứ 5 trong tổng số 25 quốc gia Châu Á có trồng lạc. Theo số liệu của FAOSTAT (2022), tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam trong 10 năm (2010 – 2020) có nhiều biến động và không ngừng gia tăng, điều này đƣợc thể hiện ở bảng 2. Tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 đến 2020 Năm Diện tích trồng (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lƣợng (tấn) 2010 231.371 Nguồn: FAOSTAT, 2022 Trong 10 năm từ 2010 – 2020, diện tích trồng lạc trên cả nƣớc giảm từ 213.
Tuy vậy, năng xuất không hề giảm mà tăng vƣợt từ 2,10 tấn/ha lên 2,50 tấn/ha, tăng 0,4 tấn/ha. Mặc dù những năm gần đây, diện tích trồng lạc ở Việt Nam bị thu hẹp đáng kể, nhƣng năng suất thì vẫn không ngừng tăng lên. Đây có thể coi là một thành công không nhỏ trong công cuộc áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào trong lĩnh vực sản xuất. Vai trò của lạc Đối với kinh tế Trong nhiều năm trở lại đây, lạc luôn là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực với khối lƣợng xuất khẩu lớn và có giá trị kinh tế cao.
Châu Á và Châu Mỹ là hai châu lục có khối lƣợng xuất khẩu lạc lớn nhất thế 5 giới (chiếm 78,56% khối lƣợng lạc xuất khẩu trên thế giới). Việt Nam là nƣớc đứng thứ 5 trong số các nƣớc xuất khẩu lạc chính ở Châu Á. Mặc dù thị trƣờng lạc những năm gần đây có nhiều biến động, nhƣng nhu cầu sử dụng và giá trị kinh tế của lạc vẫn không thuyên giảm. Theo số liệu của FAOSTAT, 2022, năm 2018 tổng giá trị sản xuất lạc tại Việt Nam đạt 497.633 nghìn USD, chiếm 1,13% so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nƣớc (44.
Ở Việt Nam, lạc là một trong số những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng đƣợc xếp vào mƣời mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của cả nƣớc sau dầu thô, dệt, may, gạo, hải sản, cà phê, cao su, thủ công mỹ nghệ, đồ da, than đá. Hàng năm, Việt Nam vẫn duy trì xuất khẩu hàng ngàn tấn lạc nhân qua các nƣớc nhƣ Đức, Pháp,. Năm 2020 Việt Nam xuất khẩu 39.982 tấn lạc thu về 56. Bên cạnh đó là xuất khẩu các sản phẩm từ lạc nhƣ dầu lạc 103 tấn với giá trị 513 nghìn USD.
Do đó, lạc vẫn là một mặt hàng nông sản khá tiềm năng, đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nƣớc và trên thế giới (FAOSTAT, 2022). Đối với nông nghiệp Lạc từ lâu đã đƣợc biết đến là cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt và là cây trồng luân canh hàng đầu để cải thiện tính chất lí, hóa cho đất. Phân lạc (cây lạc ủ thành phân) đƣợc cho rằng hơn hẳn so với phân chuồng. Khi khảo sát v ng đất bạc màu Hà Bắc, Nguyễn Văn Mạnh (1997) nhận thấy rằng: Nếu thay 10 tấn phân chuồng bằng 10 tấn phân lạc để bón cho lúa thì năng suất lúa tăng 0,3 tấn/ha.
Nếu bón 10 tấn phân lạc cộng 1 tấn phân lân thì hiệu quả tăng rõ rệt, năng suất tăng 0,97 tấn/ha. Theo nghiên cứu của Ƣng Định và Đặng Phú (1999) với 1 ha thân lạc đủ để bón cho 2 - 3 ha lúa và năng suất lúa tăng lên đáng kể. Rễ cây lạc có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần giúp cố định ni-tơ trong không khí tạo thành đạm cung cấp cho cây và cho đất. Nốt sần xuất hiện từ 6 khi cây có 4 - 5 lá thật sau 15 - 30 ngày gieo hạt.
Lƣợng nốt sần tăng dần trong quá trình sinh trƣởng của lạc và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả và hạt. Kích thƣớc, vị trí, màu sắc dịch nốt sần có liên quan tới khả năng cố định ni-tơ. Nốt sần ở rễ chính và gần rễ chính có kích thƣớc lớn, dịch hồng đỏ là những nốt sần có hoạt động cố định ni-tơ mạnh. Cây lạc đƣợc sử dụng để luân canh với cây trồng khác giúp làm thay đổi pH đất, tăng hàm lƣợng chất hữu cơ, cải thiện thành phần cơ giới, tăng lƣợng đạm dễ tiêu trong đất.
Đặc biệt, khi luân canh lạc với lúa sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với các công thức luân canh khác. Bên cạnh đó, lạc còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc. Thân lá có tỷ lệ đƣờng > 24%, protein > 10% d ng trong chăn nuôi trâu, bò, dê, cừu. Vỏ lạc có 3,7% protein; 1,4% lipid; 32,3% gluxit nên có thể nghiền làm cám cung cấp đầy đủ chất dinh dƣỡng cho gia súc, gia cầm (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996).
Đối với đời sống con ngƣời Lạc trở thành món ăn tinh thần hàng ngày của con ngƣời nhƣ lạc luộc, lạc rang, hay kẹo lạc, xôi lạc, 20% số lạc sản xuất ra trên thế giới thƣờng đƣợc chế biến thành các sản phẩm nhƣ bánh kẹo, mứt, bơ, 80% còn lại đƣợc ép thành dầu, dầu lạc đƣợc sử dụng nhiều trong nấu ăn vì nó có một hƣơng vị nhẹ và có một hàm lƣợng cao các chất béo không bão hòa, nó đƣợc coi là lành mạnh hơn các loại dầu bão hòa và có khả năng chống ôi thiu. Một số bệnh hại cây lạc 2. Bệnh thối gốc mốc trắng (TGMT) a.