Chương 1 TONG QUAN 1. Đặc điểm của nam Chaetomium sp. Giới thiệu chung về nam Chaetomium sp. Chi Chaetomium thuộc Giới: Fungi Ngành: Ascomycota Lớp: Sordariomycetes Bo: Sordariales Ho: Chaetomiumceae Chi: Chaetomium (Theo Soytong va cs 1989).
Bộ Sordariales có 120 chi và 700 loài khác nhau. Riêng chi Chaetomium cô khoảng 300 loài khác nhau. Các loài Chaetomium sp. có đặc trưng riêng là có các lông bao, còn gọi là “sợi tóc”; cellulose là vật chất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát sinh bào tử.
Nam Chaetomium sp. được tim thấy trên nhiều loại bề mặt vật chất khác nhau ở điều kiện ấm áp và khô như: phân, rơm, giấy, hạt, mảnh vụn thực vật, lông chim.Nhưng môi trường sống chủ yếu vẫn là ở trong đất. Theo Soytong và Quimio (1989), các loài Chaetomium sp. có thé được phân lập bằng phương pháp bay nam bằng mảnh giấy lọc đặt trên bề mặt dat 4m trong dia petri.
Đặc điểm hình thái của nắm Chaetomium sp. Khuẩn ty: phát triển nhanh trên môi trường thạch khoai tây, kích thước 6 — 9 cm sau 9 — 10 ngày nuôi cấy. Khuẩn ty ban đầu có màu trắng như bông, sau chuyển sang màu xám nhạt, rồi dan chuyển sang màu nâu đen do sự hình thành các qua thé ascoma. Các quả thể này có dạng hình cầu hoặc hình quả lê, kích thước lớn, hình thành rải rác khắp bề mặt khuẩn lạc, tạo thành đám màu nâu đen khi già (Soytong, 1991).
Sợi nam: Soi nam có vách ngăn, có mau xám hoặc nâu nhạt, moc từ môi trường và từ sợi khí sinh (Soytong, 1991). Cơ quan sinh sản: Quả thê hình quả lê phình ra ở giữa, có màu tối (đen hoặc nâu đen), có mở lỗ; có nhiều lông bao mọc xung quanh bên ngoài, kích thước 100 — 500 x 100 — 400 um, với các kiểu dang và độ dày mỏng khác nhau tuỳ loài; có loại thang hay uốn nếp kiểu gon sóng, loại ngoằn ngoèo kiểu ruột già, loại chỉ ngoằn ngoèo trên đỉnh sợi, loại xoăn lọn, loại đơn giản, loại phân nhánh (Soytong, 1991). Quả thé lúc còn non có hình cavat đến hình gậy chứa đựng từ 4 — 8 bao tử màu nâu. Khi quả thé chín các nang nam giống như cột trụ hoặc hình chùy nhú lên từ đầu của qua thé, chứa các nang bao tử thắng hoặc không thang hàng.
Kích thước của nang nam là 68 — 84 x 5 — 7 wm. Các nang bào tử có màu, thành tế bào nhẫn, có nhiều hình dang khác nhau (chủ yếu là hình quả chanh) với 1 lỗ mầm, kích thước 10 — 12x 2. Bao tử bọc sinh ra từ túi bào tử hình trụ hoặc sợi nam, kích thước bào tử 7 — 8 x 5 — 6 um (Rai và Mukerrji, 1964). Các dạng qua thé và bào tử của nam Chaetomium (Wang va cs, 2016).
Chú thích: A; B; C; D: Các dạng quả thé của nắm Chaetomium; E; F; G; H; J: Các dạng bào tử của nam Chaetomium 1. Đặc điểm phân bố của nắm Chaetomium sp. Nam Chaetomium sp. là một trong những nhóm nắm lớn nhất trong hệ vi sinh vật đất phân bố rộng rãi trong tự nhiên, và sự phân bố của cũng tuân theo quy luật như các loài vi sinh vật khác.
Số lượng của nắm Chaetomium sp. chủ yêu nằm trong các tầng đất dưới. Đặc biệt ở tầng đất sâu 25 — 30 cm thì số lượng Chaetomium sp.co nhiều nhất (Soytong và Quimio, 1989). Yếu tố dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển của nắm Chaetomium sp.
Nguồn carbon: Khả năng hấp thụ nguồn carbon khác nhau của các chủng nam Chaetomium sp. được ứng dụng trong việc sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nắm bệnh hại cây trồng (Soytong, 1990). Các chủng nắm này hấp thụ tốt một số loại đường như Saccharose, glucose, fructose, cellubioseza, D- lactose, D-maltose, tinh bột, ri đường, axit malic, L- arabinoea dé tổng hop năng lượng, hấp thụ kém đối với rượu, N-amylic, citric acid. sử dụng rất tốt với các loại đường fructose, saccharose, galactose, ribose, cellobiose (Bainier, 1910).
Nhưng cũng có những nghiên cứu cho thấy rang, trong môi trường không cần đường thi Chaefomium sp. van phát triển tốt. Các loài Chaetomium hấp thụ cả hợp chat vô cơ và hữu cơ có chứa nitơ, nhưng ưa môi trường có chứa L-triptophan và L-glutamic. Prolin nhanh chóng bị phân giải bởi Chaetomium globosum và sử dụng các sản pham của quá trình phân giải đó (Rai và MukerrjI, 1964).
Nguồn nitơ (dam): Theo Soytong (1988), thì các loài Chaetomium hap thụ cả hợp chất vô cơ và hữu cơ có chứa nitơ, nhưng ưa môi trường có chứa L- triptophane và L-glutamic. Prolin nhanh chóng bị phân giải bởi Chaetomium globosum va sử dụng các sản phẩm của quá trình phân giải đó. lucknowense thích hợp sử dung đạm nitrat natri, nitrat amon sử dụng kém hơn. Cũng theo Soytong thì có những loài hap thụ tốt muối amon đó là C mollicellum, C.
Trên môi trường có chứa casein ức chế sinh trưởng của nhiều loài Chaefomium. Độ âm: Độ âm tương đôi là ảnh hưởng dén sự nảy mâm của bào tử và phát triển các cơ quan dinh dưỡng của nam Chaetomium. Bao tử nam Chaefomium cô thé nay mầm trong một phổ độ 4m tương đối rộng 30-100%, nhưng phù hợp nhất là 70-100%. Bao tử nam Chaetomium có thê nảy mầm cả khi ở các vùng đất khô hạn vì tiết ra ergosterol (Sekita và cs, 1981).
Nhiệt độ: Nam Chaetomium phát triển trong một pho nhiệt độ rộng từ 3- 52°C. Mỗi loài Chaetomium lại có khoảng nhiệt độ thích nghi riêng như: C. Nguồn gốc xuất xứ có ảnh hưởng lớn đến khoảng nhiệt độ sinh trưởng thích hop của nam Chaetomium. globosum, nhưng khi phân lập ở Trung Quốc trong vùng khí hậu ôn đới thì nhiệt độ thích hợp là 12 — 15°C và phát triển tối ưu cả ở Nga, nhưng cũng loài đó khi phân lập ở Thái Lan thì nhiệt độ thích hợp là 25-30°C.
Khi nhiệt độ lên cao quá thì nắm Chaetomium chậm sinh trưởng, bề mặt map mô, không bằng phẳng (Umeda, 1981). Tuy nhiên nhiệt độ không ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt tính đối kháng của nắm Chaetomium (Bordeau và Andrew, 1987). Ánh sáng: Ánh sáng ảnh hưởng đến hoạt động và quá trình sinh trưởng của nam Chaetomium. Trong điều kiện tối, quá trình sinh bào tử chậm hơn trong điều kiện chiếu sáng, nhưng số lượng bào tử điều kiện chiếu sáng liên tục sẽ ít hơn so với điều kiện tối.
Trong điều kiện sáng xen tối thì lượng bào tử và lượng nam sinh khối thu được là cao nhất. Trong điều kiện chiếu sáng liên tục sẽ ức chế sự tạo thành sinh khối, sự hình thành bào tử và sự tăng trưởng phát triển của sợi nấm. Nhưng thì ánh sáng không có ảnh hưởng rõ rệt đến một số chủng nắm Chaetomium sp. pH: Là một yếu tổ quan trọng liên quan đến sự sinh tồn của nam Chaetomium.
Mặc du các loài Chaetomium khác nhau có thé phát triển ở các mức pH khác nhau, những loài cụ thể có độ pH tối ưu khác nhau, C.cupreum (pH 5-6), nhưng C. /ucknowense thích hợp pH 3-8 (Soytong, 1991). Hoạt tính co bản của nắm Chaetomium sp. Một trong những hoạt tính cơ bản và quan trọng của loài Chaetomium sp.
là khả năng sinh enzyme ngoại bào mạnh như cellulase. Cellulase là enzyme phổ biến ở nhiều loài Chaetomium sp. Day là enzyme khá quan trọng trong quá trình sống của loài nam này. Nam Chaetomium không chỉ giúp phân giải các xác thực vật tạo nguồn đỉnh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển của nam mà còn tạo cơ chế dé xâm nhập và phá hủy một số loại nấm gây bệnh khác bang cách ức chế sự tổng hợp thành tế bào nam như ức chế hình thành thành tế bào 3 - D - glucan của nam.
Đây là một trong những cơ chế cơ bản dé ky sinh trên nam bệnh của Chaetomium sp. Ngoài ra, Chaetomium sp. còn kích thích sinh trưởng của cây bằng cách tiết ergosterol làm tăng độ mùn trong đất, từ đó kích thích cây sinh trưởng làm tăng sức dé kháng cho cây. Nam Chaetomium sp.
có khả năng sản sinh ra bao tử trong vùng đất của rễ cây trồng, có khả năng cạnh tranh dinh dưỡng mạnh hơn so với nắm bệnh, nhất là trong điều kiện đất có nhiều mun hơn (Di-pietro, 1991). còn có khả năng tông hợp được các chất hoạt hóa sinh học nhóm Mycotoxin (Chaetoglobosin Q, R, T, U) và nhóm Epipolythiodioxopiperazine (Chaetoglobosin A, B, C). Đây là nhóm chất có hoạt tính kháng nắm, có khả năng tiêu điệt các tế bào nắm bệnh bằng cách phá hủy màng tế bào, làm cho nguyên sinh chat bị phá vỡ ra ngoài và mat đi độc tính của nắm bệnh, kết quả là làm giảm hiệu quả của tác nhân gây bệnh cũng như mức độ nhiễm bệnh (Di-pietro, 1991). | ø Z PPS Sw MII A | kg vd r% | 9 9 ) ` on G: chaetoglobusinC H: chaetoviridins A a Ị x “= | o> ` ~^m { ‘ Moy > H 0H 1: chactovindins B J: rotionnol Hình 1.
Một số chat kháng sinh của nam Chaetomium có hoạt tinh ức chế nam gây bệnh (Keawchai va cs, 2009). -Chaetomium có khả năng tiết ra 4 loại kháng sinh quý hiếm. Các chất này có khả năng ức chế, phá vỡ tế bào, xâm nhiễm, tiêu diệt các loài nam hai một cách khá dé dang (Soytong, 1989). -Chaetomium sản sinh ra chất Chaetoglobusin C có khả nang ức chế sinh trưởng của một số năm gây bệnh cây như Colletotrichum gloeosporioides, Coldematium, Fusarium oxysporum, Phytophthora pahnivora, Pparasiica, P.cactorum, Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani va Sclerotium rolfsli (Soytong va cs.
Chat Chaetoviridins A va B có khả năng ức chế sinh trưởng một số nam như Pyricularia oryzae, Pythium ultimum (Park và cs., 2005) Chat Rotiorinois: do nam C. cupreum tạo ra có kha năng ức chế sinh trưởng của nhiều tác nhân gây bệnh gồm cả nam va vi khuẩn (Kanokmedhakul va cs. Chaetomium là nhóm nam có hệ enzyme ngoại bào phong phú có khả năng tao cellulases, chitinases và beta-1,3-glucanases. Cac enzyme này giúp Chaetomium có thé phân hủy vách tế bảo nam that (fungi) được cấu tạo bởi chitin (là các chuỗi N-acetyl-D-glucosamine không phân nhánh) và B-1,3-glucan hay vách tế bào của nam trứng (Phytophthora, Pythium), được cấu tạo bởi cellulose và glucan (Cao và cs, 2009; Gao và cs, 2005a; Gao va cs, 2005b; Kaewchal và cs, 2009; Sun va cs, 2006; Ya fen & Jin-jie, 2005).
Thực tế khi xử lý chế phẩm sinh học được sản xuất từ các chủng nam Chaetomium, cây sinh trưởng phat trién manh va cho nang suat, chat lượng cao hon, cả trong điều kiện nhà kính và ngoài đồng ruộng, Chaetomium được biết có khả năng sản sinh một lượng cơ chất ergosterol khá lớn. Chính ergosterol là một nhóm hợp chất chuyền hóa có nguồn gốc từ nắm có khả năng cải tạo đất làm cho đất thêm màu mỡ, tăng độ phì nhiêu của đất, cải thiện cấu trúc đất, kích thích sự phát triển của cây (Eash và cs, 1994).