Đặt vấn đề Ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, cây lạc (Arachis hypogaea) là một loại cây họ đậu được gieo trồng phổ biến ở hơn 100 quốc gia với diện tìch trên 25 triệu ha. Tại Việt Nam, lạc được trồng nhiều ở đồng bằng Bắc Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ. Hiện nay, diện tìch trồng lạc ở Việt Nam khoảng 250. Ngoài mục đìch kinh tế, lạc còn là cây trồng cải tạo đất rất tốt, do vi khuẩn nốt sần ở rễ cộng sinh với lạc có khả năng cố định đạm từ nguồn N2 trong không khì, làm tăng hàm lượng đạm trong đất, tăng độ phí nhiêu cho đất.
Lạc thìch hợp với đất cát pha, đất thịt nhẹ và các loại đất khác có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt. Cây lạc còn là cây phân xanh, có thể sử dụng trực tiếp toàn bộ rễ, thân, lá của cây lạc làm phân bón đất. Ngoài ra, lạc còn có nhiều ứng dụng trong đời sống như sản xuất dầu thực vật, thực phẩm…. Trong những năm gần đây, sản lượng lạc của Việt Nam không ngừng tăng lên.
Tuy nhiên, so với tiềm năng tăng năng suất của giống này thí năng suất trên đơn vị còn thấp và có sự khác biệt lớn giữa các vùng trong cả nước. Nguyên nhân khiến năng suất lạc trong vùng thấp là do điều kiện đất đai, kỹ thuật canh tác và sự phá hại của sâu bệnh. Trong số đó, có nhóm bệnh héo rũ gốc, đã và đang gây thiệt hại nặng nề cho bà con. Triệu chứng cây lạc héo và chết trên đồng ruộng là triệu chứng thường gặp của cây lạc bị nhiều mầm bệnh gây hại trong đất gây hại cho rễ và thân.
Trong số các mầm bệnh gây héo, các mầm bệnh phổ biến như nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc mốc trắng; nấm Fusarium spp. gây bệnh héo vàng;. Trong các nhóm nguyên nhân gây bệnh héo chết cây lạc, nấm S. rolfsii là loại gây hại phổ biến và có thể gây thiệt hại 10- 25 năng suất, cá biệt có thể lên đến 80 năng suất.
Tại Hoa Kỳ, hàng năm nấm S. rolfsii gây thiệt hại chiếm 5-10 năng suất (Mehan & cs. Ở một 1 số vùng trồng lạc ở Miền trung Việt nam, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên đến 25% (Le & cs. Để hạn chế bệnh hại, một số biện pháp được nghiên cứu và áp dụng như biện pháp canh tác, sử dụng giống kháng bệnh, biện pháp hoá học và sinh học.
Tuy nhiên, lạm dụng sử dụng thuốc hóa học trong thời gian dài có thể ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Xuất phát từ thực tế này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ― Phân lập, tuyển chọn và nghiên cứu đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc lạc‖. Mục đích nghiên cứu - Tuyển chọn được chủng vi khuẩn có khả năng đối kháng chủng nấm Sclerotium rolfsii - Đánh giá một số đặc tình sinh học của các chủng vi khuẩn tuyển chọn. Nội dung nghiên cứu - Phân lập các chủng vi khuẩn từ các mẫu đất trồng lạc bị bệnh thối gốc lạc thu thập ở các địa phương.
- Tuyển chọn các chủng vi khuẩn có khả năng đối kháng mạnh nấm Sclerotium rolfsii (≥ 30%). - Nghiên cứu một số đặc tình sinh học của các chủng vi khuẩn tuyển chọn. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây lạc 2.
Nguồn gốc, vị trí của cây lạc Lạc (tên khoa học là Arachis hypogaea) thuộc họ Leguminiseae, họ phụ Papilionaceae, giống Arachis, là một cây có nguồn gốc từ Nam Mỹ còn có tên gọi khác là đậu phộng. Loài cây này được khai hoang đầu tiên bởi cư dân vùng sông Paraguay và Parama ở vùng Chaco của Paraguay và Bolivia. Cây lạc (đậu phộng) (Nguồn: https://npkdinhvu.vn/vi/tin-tuc-su-kien/phan-bon-va-ky-thuat-trong-cay/64-quy- trinh-gieo-trong-va-cham-soc-cay-lac) Trên thế giới, trong số các loại cây có dầu ngắn ngày thí lạc được xếp thứ 2 sau đậu tương về diện tìch và sản lượng, xếp thứ 13 trong các loại cây thực phẩm quan trọng, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật và xếp thứ 3 về nguồn protein quan trọng cung cấp cho người. Hạt lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao cho nhiều nước.
Giá trị của lạc hiện chiếm gần một phần tư thu nhập ở Senegal và 80 xuất khẩu ở Senegal, và chiếm khoảng 60 giá trị xuất khẩu ở Nigeria. Theo FAO năm 2019-2020 các nước xuất khẩu lạc lớn có thể kể đến là Trung Quốc 259.569 tấn, Hoa Kỳ 330.396 tấn và 3 Việt Nam 40. Thị trường xuất khẩu dầu lạc đạt 2,68 triệu tấn, trong đó 3 nước xuất khẩu lớn nhất là Nigeria với 321.000 tấn, Senegal với 142.000 tấn và Sudan đạt 138. Theo FAOSTAT, trước năm 1990 cây lạc vẫn chưa được quan tâm ở nước ta nên diện tìch và sản lượng rất khiêm tốn.
Năm 1987 là đỉnh cao của sản xuất lạc trong thời gian này với diện tìch đạt 237.000 ha nhưng năng suất chỉ đạt 0.97 tấn/ha và sản lượng xấp xỉ 231. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc ở Việt Nam 2016 2017 2018 2019 2020 Diện tích (nghìn ha) 184.4 Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam,2020 2. Vai trò, ứng dụng của lạc trong đời sống Tất cả các bộ phận trên cây lạc đều có giá trị sử dụng. Sản phẩm chình của cây lạc là hạt lạc, thành phần chứa trong cây lạc chủ yếu là chất béo và các acid amin, bao gồm: acid oleic, acid lauric, arginine, carbohydrate,.
Do hạt lạc có giá trị dinh dưỡng như vậy nên từ lâu người ta đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng. Trên thế giới, có khoảng 80 số lạc sản xuất ra được dùng làm dầu ăn, khoảng 12 được dùng chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như bánh, mứt, kẹo, bơ… khoảng 6 dùng cho chăn nuôi, 2 dành cho xuất khẩu (Nguyễn Minh Hiếu, 2003). Ngoài ra, dầu lạc là nguồn bổ sung chất đạm và chất béo quan trọng trong chế biến thức ăn gia súc tổng hợp. Lạc sau khi ép dầu có khoảng 10 nước, 45 protein, 8 lipit, 4,8 cellulose, 25% gluxit và 6,5 các loại muối khoáng.
Thân lá lạc sau khi thu hoạch có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò hoặc làm phân bón bằng cách ủ hoại mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn tại ruộng. 4 Lạc là cây họ đậu, bộ rễ của nó mang nhiều nốt sần nên có tác dụng làm giàu nguồn đạm cho đất ví vậy lạc được xem là cây trồng lý tưởng trong công tác cải tạo, bồi dưỡng đất tốt trên các loại đất xám bạc màu, đất phù sa cổ, đất bị rửa trôi và thoái hóa nhanh, đất có hàm lượng mùn và dinh dưỡng thấp (Tạ Quốc Tuấn & Trần Quang Lợi, 2006). Cụ thể hơn phải kể đến một số ứng dụng của lạc như: - Trong công nghiệp, hạt lạc là một trong những nguyên liệu được dùng trong công nghiệp ép dầu. Dầu lạc làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, làm bơ, nước chấm, sữa hộp đặc và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến xà phòng, chất tẩy rửa.
- Dầu lạc tinh chiết dùng trong y học và trong nghề tiểu thủ công nghiệp, trong mỹ nghệ (Đ Tấn Dũng, 2000). Ngoài ra trong y tế thí dầu lạc được dùng để làm xà phòng trong dân dụng và y tế. Ở Mỹ theo nghiên cứu của George Wahington Carver, dầu lạc có thể dùng như một loại dầu massage để làm đẹp cho da phụ nữ. Tại Việt Nam, theo Đông y, các bộ phận của cây lạc như thân, cành, lá, quả, hạt và màng bọc ngoài của hạt lạc, dầu lạc.
đều là những vị thuốc phổ biến được sử dụng lâu đời trong dân gian. Hạt lạc có vị ngọt, bùi, béo; có tác dụng bổ tỳ, dưỡng vị, nhuận phế, lợi tràng, tiêu đờm, điều hòa huyết khì, tiêu sưng, cầm máu, lợi tiểu, mát họng, giảm cholesterol, chống lão hóa. Ngoài ra lạc được dùng để chữa bệnh suy nhược, làm dịu cơn đau bụng, khi kết hợp với quế, gừng, làm dịu các cơn đau bụng kinh. Thân và lá dùng để chữa bệnh trướng khì ruột kết.
Theo Tây y, các nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy hạt lạc có những tác dụng tăng lực, bồi bổ cơ thể, hạ huyết áp và cầm máu. Vỏ lụa có tác dụng cầm máu, chữa xuất huyết và kìch thìch tủy sống tạo ra tiểu cầu. Vỏ lạc có tác dụng hạ huyết áp và giảm mỡ máu. Cành, lá cây lạc ngoài tác dụng hạ huyết áp và giảm mỡ máu, còn có tác dụng an thần, chống mất ngủ.
- Trong nông nghiệp, lạc là cây bảo vệ đất và làm tăng độ phí nhiêu của đất, nó có thể để lại cho đất một lượng đạm khá cao nên lạc là cây trồng rất lý tưởng 5 trong công tác cải tạo đất. Nó có vị trì quan trọng trong chế độ luân canh với nhiều loại cây trồng khác, cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc. Cây lạc không chỉ có khả năng chống xói mòn và cải tạo đất nhờ vi khuẩn nốt sần mà còn có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 90-125 ngày) nên cây lạc có thể xen canh, gối vụ với các cây trồng khác làm tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tìch trồng. Ngoài những vai trò thiết thực như vậy thí sản phẩm phụ của lạc được sử dụng khá nhiều nên đã góp phần nâng cao giá trị về nhiều mặt khi sản xuất lạc.
Thân lá có tỷ lệ đường trên 24 , protein trên 10 làm thức ăn xanh cho gia súc. Trong chế biến thực phẩm, vỏ quả lạc chiếm 25-30 trọng lượng quả nên người ta thường tách hạt khỏi vỏ quả, vỏ quả trở thành sản phẩm phụ được nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi. Cám vỏ củ lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương với cám gạo dùng để nuôi lợn, gà vịt công nghiệp rất tốt (Tài Liệu Đào Tạo Nghề, 2012). Thân lá lạc sau khi thu hoạch ngoài việc có thể làm thức ăn cho chăn nuôi còn có thể dùng làm phân bón bằng cách ủ mục với các loại phân bón khác hoặc vùi xuống ruộng ví trong thân lá lạc cũng có chứa một lượng chất khoáng N, P, K.
Do đó, thân lá lạc được xem là loại phân xanh có giá trị cả về chất lượng và khối lượng (Hiếu & Ctv, 2003). Một số bệnh hại phổ biến trên cây lạc 2. Bệnh thối gốc lạc Bệnh thối gốc lạc hay còn gọi là bệnh héo rũ gốc mốc trắng. Tên bệnh được đặt theo triệu chứng mà nấm gây ra cho cây trồng.
Theo danh mục bệnh hại lạc, nó còn được đặt là bệnh thối trắng thân lạc (Ngô Thế Dân, 2000).