CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài nấm KSCT Nấm KSCT là các loài nấm ký sinh trên sâu non hoặc nhộng hoặc sâu trưởng thành của một số loài côn trùng.
Vào mùa đông, sâu non, sâu trưởng thành của một số loài nằm dưới đất hoặc ở trên mặt đất bị nấm KSCT xâm nhiễm và sử dụng các chất trong cơ thể côn trùng làm thức ăn, làm cho côn trùng chết. Giai đoạn này nhiệt độ và ẩm độ không khí thấp, nấm ký sinh ở dạng hệ sợi. Đến mùa hè, nhiệt độ và ẩm độ không khí cao đã hình thành thể quả và nhú lên khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào thân sâu. Người ta thường đào lấy cả xác sâu và nấm để làm thuốc.
Vì mùa đông nấm ký sinh trên sâu, mùa hạ mọc thành cây nấm. Chi nấm Cordyceps đã được thu mẫu và định loại trên 400 loài khác nhau và theo hệ thống phân loại truyền thống các loài này được xếp vào họ Clavicipitaceae. Dựa trên đặc điểm hình thái cũng như đặc điểm về cấu trúc phân tử, các loài nấm trên được xếp trong 162 đơn vị phân loại, bao gồm các chi chủ yếu là: Cordyceps, Elaphocordyceps, Metacordyceps và Ophiocordyceps thuộc 2 họ Cordycipitaceae và Ophiocordycipitaceae (Gi-Ho Sung et al. (2000) đã mô tả đặc điểm hình thái, công dụng và ảnh minh họa cho 13 loài nấm thuộc chi Cordyceps phân bố ở Trung Quốc, đó là các loài: Cordyceps barnesii Thwaites, Cordyceps capiata (Holmsk., Cordyceps crassispora Zang, Yang et Li, Cordyceps gunii (Berk., Cordyceps hawkesii Gray, Cordyceps kyushuensis Kobayasi, Cordyceps martialis Gray, Cordyceps militaris (L., Cordyceps nutans Pat., Cordyceps ophioglossoides (Ehrenb., Cordyceps sinensis (Berk., Cordyceps sobolifera (Hill., Cordyceps tubeculata (Leb.
n 4 Sung Jae Mo (2000) đã mô tả đặc điểm hình thái và hình ảnh của 25 loài nấm thuộc chi Cordyceps phân bố ở Hàn Quốc, bao gồm các loài sau: Cordyceps adaesanensis, C. Tại Nhật Bản, Tsuguo Hongo và Masana Izawa (1994) đã mô tả và giới thiệu bằng hình ảnh 33 loài nấm Đông trùng hạ thảo thuộc chi Cordyceps, đó là các loài: Cordyceps agriota, C. Như vậy, thành phần loài nấm KSCT khá phong phú ở trên các vùng sinh thái khác nhau và có nhiều loài có phạm vi phân bố rộng, có nhiều loài có đặc điểm phân bố đặc hữu cho từng vùng. Năm 1983, Riley phát hiện một loài nấm ký sinh trên côn trùng thuộc Ngài đêm ở Bắc Mỹ.
Ở châu Á cũng tìm ra nấm ký sinh trên côn trùng thuộc họ Ngài đêm. Nghiên cứu về thành phần hóa học của nấm ký sinh côn trùng Trong các loài nấm KSCT, loài nấm Cordyceps sinensis, Cordyceps militaris và một số loài khác được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả về phân loại, thành phần hóa học và giá trị dược liệu. Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối (biomass) của nấm Cordyceps militaris có 17 a xít amin khác nhau, D-mannitol, lipit và nhiều nguyên tố khoáng (Se, Zn, Cu. Quan trọng hơn là trong sinh khối n 5 có nhiều chất có hoạt tính sinh học, mà các nhà khoa học phát hiện được nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên.
Theo số liệu của Viện sinh thái ứng dụng thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc, thành phần hóa học của thể quả nấm Cordyceps militaris như sau: + Protein chiếm 40,69%; + Các loại vitamin: vitamin A (34,7 mg/gam), vitamin B1 (13,0 mg/gam), vitamin B6 (62,2 mg/gam), vitamin B12 (70,3 mg/gam), vitamin B3 (42,9 mg/gam); + Các nguyên tố khoáng: Se (0,44 ppm), Zn (130,0 ppm), Cu (29,15 ppm); + Hợp chất hóa học và nhóm hợp chất quan trọng: cordycepin (1,52%), cordycepic axit (11,8%), polychaccarit (30%). Hợp chất cordycepin là một hợp chất quan trọng, quyết định phẩm chất, chất lượng của nấm KSCT (Mina Masuda et al. Cordycepin (3’- deoxyadenosine) là một dạng nucleotide có hoạt tính sinh học phổ rộng, thường được chuyển đổi thành 5’-mono, di và triphosphate, hợp chất này ức chế sự hoạt động của quá trình sinh tổng hợp mới của các tế bào ung thư. Những nghiên cứu của Trung Quốc, Hàn Quốc và Mỹ tập trung chủ yếu vào tuyển chọn và nâng cao hàm lượng cordycepin trong thể quả hoặc trong dịch nuôi cấy hệ sợi.
Khi nuôi cấy hệ sợi trên môi trường lỏng, nấm đã sản sinh ra cordycepin, hàm lượng đạt 26,8 mg/lít. Nếu cung cấp đủ lượng oxy cho quá trình nuôi cấy, hàm lượng này được tăng lên nhiều từ 114,8 đến 167,5 mg/lít (Xian-Bing Mao và Jian-Jiang Zhong, 2004). Tuy nhiên sản lượng cordycepin thu được từ thể quả nấm phụ thuộc vào khối lượng theo thể tích dung môi chiết xuất, thời gian chiết xuất và nồng độ của cồn làm dung môi [31]. Sản lượng đạt cực đại khi sử dụng cồn có nồng độ 20,21%, thời gian chiết xuất là 101,88 phút, khối lượng dung môi là 33,13 ml/gam thể quả nấm (Jiang- Feng Song et al.
Như vậy qua phần phân tích ở trên, hợp chất cordycepin là một hợp chất quan trọng, quyết định phẩm chất, chất lượng của nấm KSCT. Nghiên cứu về giá trị dược liệu của nấm KSCT Từ xa xưa người Phương Đông đã biết sử dụng nhiều loại nấm để làm thuốc bổ tăng cường thể lực, phòng chống bệnh tật như: Nấm KSCT, Phục Linh, Vân Chi, Linh Chi, Nấm Hương Nhật, Nấm mùa đông. Hơn 1500 năm trước trên dãy Hymalaya, những người chăn thả gia súc nhận thấy khi gia súc của họ nhai một loại cỏ thì chúng trở nên rất khoẻ mạnh. Thậm chí những con già yếu cũng trở nên rất sung sức.
Họ phát hiện ra loại cỏ đó chính là một loại nấm mọc từ mình con sâu (đó là loại nấm thuộc chi Cordyceps). Có lẽ do loại nấm này chứa một số thành phần bí ẩn nào đó. Các thầy thuốc Trung Quốc sử dụng chúng và trị được một số bệnh hiêm nghèo. Từ đó dược tính kì diệu của loài nấm được khám phá và truyền tụng.
Hơn 1000 năm sau, các loài nấm được sử dụng như một phương thuốc màu nhiệm chỉ dành riêng cho các vị vua chúa [19]. Đến năm 1993, huấn luyện viên của một đội tuyển nữ Trung Quốc cũng khẳng định năng lực của các vận động viên tăng lên là nhờ sự luyện tập cao độ và sử dụng một số loại thuốc bổ có nguồn gốc từ nấm Cordyceps. Y sử Trung Quốc đã nhấn mạnh tác dụng cải thiện chức năng phổi và thận của loại nấm này. Ngày nay, Cordyceps đã có mặt ở hầu hết các nước Phương Tây.
“Nấm KSCT” tên gọi của loại nấm này có ý nghĩa, mùa đông nấm kí sinh côn trùng, mùa hè là cây cỏ (thực ra là nấm), loại nấm này có nhiều ở vùng Tây Nam Trung Hoa Ở Mỹ, Nấm KSCT được sử dụng làm thuốc tăng lực hồi phục sức khỏe cho các vận động viên thể dục thể thao. Chi nấm Cordyceps có tới 350 loài khác nhau, chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy 60 loài. Tuy nhiên, người ta mới chỉ nghiên cứu nhiều nhất về hai loài: Cordyceps sinensis (Berk. và Cordyceps militaris( L.
Loài thứ hai được gọi là Nhộng trùng thảo [23]. Tại một viện nghiên cứu công nghệ sinh học Trung Quốc việc phân lập thành công nấm Cordyceps sinensis trong nấm ký sinh côn trùng và chứng minh được mọi dược liệu đều nằm trong phần hạ thảo chứ không hề có trong phần Đông trùng [23]. n 7 Sách y học cổ truyền của Trung Quốc từ xa xưa đã coi nấm KSCT là vị thuốc có tác dụng “tư bổ dược thiện”, có thể chữa được “bách hư bách tổn”. Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định nấm ký sinh côn trùng hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật [19].
Nấm ký sinh côn trùng thường gặp ở những vùng rừng ẩm ướt như Tứ Xuyên, Thanh Hải, Quý Châu, Vân Nam (Trung Quốc), Tứ Xuyên là nơi sản xuất nhiều hơn cả. Nấm KSCT chủ yếu tìm thấy ở vùng núi cao hơn 4000m ở cao nguyên. Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài nấm thuộc chi Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp để tinh chế các cơ chất có dược tính. Tên “Nấm KSCT” được ghi chép là vị thuốc lần đầu trong cuốn Bản thảo cương mục đời Minh cuả Lý Thời Trần.
Dược tính theo Đông Y là vị ngọt, tính ấm, hơi độc. Nó nhập vào kinh Phế và kinh Thận. Tác dụng là bổ hư, kích phát nguyên khí, trừ ho, hoá đàm. Do đó, nó trị khó thở và ho do chứng đàm thấp, trị khó thở do hư nhược, ho do lao tổn, ho ra máu, đổ mô hôi trộm về đêm, trị đau thắt lưng và đầu gối, bổ hư trong thời gian bình phục một cơn bệnh [22].
Hiện nay tại Hàn Quốc có và đang trồng thành công loại đông trùng hạ thảo (nhân tạo) màu nó vàng ánh (khác với loại thiên nhiên có màu sôcôla). Nhộng Trùng Thảo được Xí nghiệp dược phẩm tỉnh Cát Lâm (Trung Quốc) phân lập được từ năm 1986, năm 1990 đã được nuôi cấy thành công trong nồi lên men. Năm 1994 đã được đưa vào sản xuất lớn trên nhộng tằm, sau đó lại thành công trong việc nuôi cấy trên các môi trường nhân tạo như gạo, tiểu mạch, ngô…[23] Tháng 11/1990 và tháng 4/1991. Trạm Vệ sinh phòng dịch Thẩm Dương (Trung Quốc) đã công bố kết quả kiểm định về giá trị an toàn thực phẩm của Nhộng Trùng Thảo và xác nhận không có độc tính, có thể coi là thực phẩm an toàn.
Đã có rất nhiều nghiên cứu sâu sắc về dược lý của Nhộng Trùng Thảo đã được công bố. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng Nhộng Trùng Thảo được sử dụng có hiệu quả để chữa trị nhiều bệnh, như rối loạn chức năng của gan (Nan J. 2001), ung thư (Yoo H. 2004), sự lão hoá, các chứng viêm tấy n 8 (Won S.
Đặc biệt nó được đánh giá có tác dụng tốt đối với thận và phổi theo y học cổ truyền Trung Quốc [20]. Một trong những giá trị của Nhộng Trùng Thảo là kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Dịch chiết bằng nước ấm đối với nấm này đã có thể kìm hãm sự phát triển của dong tế bào ung thư máu ở người bằng cách gây ra hiện tượng tự chết (apoptsis) của các tế bào này thong qua sự hoạt hoá enzyme caspase-3 (Lee H., 2006, Park C et al. Dịch chiết từ Nhộng trùng thảo đã thể hiện là có tiềm năng to lớn trong việc chữa trị ung thư máu (leukemia).
Các nhà khoa học cũng sử dụng dịch chiết từ Nhộng trung thảo để thử nghiệm trên các dòng tế bào bình thường và các tế bào ung thư.