Đặt vấn đề Keo tai tượng là loài cây nhập nội được đưa vào trồng ở nước ta từ những năm đầu của thập niên 80, 90. Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi các thí nghiệm về khảo nghiệm xuất xứ và các thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật gây trồng có kết quả (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2003)[6]. Keo tai tượng đã được trồng phổ biến ở hầu hết các tỉnh trong cả nước. Là loài cây gỗ lớn, mọc nhanh, gỗ dễ gia công nên rất được ưa chuộng để đóng đồ gia dụng, làm nhà, ván dăm, làm bột giấy vv… Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng Keo tai tượng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng diện tích rừng trồng của Việt Nam.
Theo Cục Lâm nghiệp (2006) diện tích rừng trồng Keo tai tượng tại các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung đã đạt trên 158. Tuy nhiên gần đây tại một số vùng trồng Keo trọng điểm trên đã xuất hiện những cây Keo bị chết héo từ trên ngọn xuống hay còn gọi là hiện tượng cây chết ngược, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu. Các mẫu bệnh đã được phòng Bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm Nghiệp giám định nguyên nhân là do loài nấm Ceratocystis sp. là những loài nấm gây hại nguy hiểm cho nhiều loài cây, là nguyên nhân gây nên bệnh thối rễ, gốc, loét thân cành và gây thối quả trên nhiều loài cây trồng nhiệt đới (Kile, 1993)[12].
Đặc biệt là loài Ceratocystis fimbriata Ellis& Halst sensu lato (s.l) gây chết hàng loạt bạch đàn ở cộng hòa Công gô và Braxin (Roux, 2000)[17]; cây Cà phê (Coffea sp.) ở Colombia và Venezuela [13];[15]. Đây cũng chính là loài gây bệnh trên cây Xoài ở Braxin (Ploetz, 2003)[14]; (Ribeiro, 1980)[16]; n 2 (Viegas, 1960)[20] và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trong ngành nông nghiệp và cây trồng ở Nam Mỹ. Ở Inonexia Ceratocystis sp. lần đầu tiên được ghi nhận khi Ceratocystis fimbriata (còn có tên là Rostrella cofeae) được công bố năm 1900 trên cây Cà phê (Coffea arabica) ở đảo Java (Zimmerman, 1900 )[21].
Sau đó nhiều loài Ceratocystis đã được tìm thấy trên nhiều cây chủ khác nhau trên nhiều hòn đảo ở Indonesia. Gần đây nhất là phát hiện 5 loài nấm Ceratocystis mới gây hại trên Keo tai tượng ở Indonexia đó là các loài C. Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis đã bắt đầu xuất hiện trên cây Keo tại một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh. Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng Keo.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm Ceratocystis sp. gây bệnh chết héo trên Keo tai tượng trong điều kiện nuôi cấy thuần khiết”. Mục đích nghiên cứu Xác định được một số đặc điểm sinh học của nấm Ceratocystis sp. Góp phần cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý dịch hại.
Mục tiêu nghiên cứu Mô tả được một số đặc điểm hình thái của nấm gây bệnh. Xác định được đặc điểm sinh học cơ bản của nấm gây bệnh trong điều kiện nuôi cấy thuần khiết. n 3 Xác định được các yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới sự phát sinh, phát triển của nấm gây bệnh từ đó xác định được điều kiện thuận lợi mà chủng nấm sinh trưởng và phát triển để phòng trừ dịch hại. Ý nghĩa việc thực hiện đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong học tập và nghiên cứu khoa học, giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện đề tài này sẽ giúp sinh viên thực hành kỹ năng nghiên cứu thực nghiệm đối với sinh vật gây bệnh mà cụ thể là nấm Ceratocystis sp. gây bệnh chết héo Keo tai tượng ở Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Cung cấp những thông tin về điều kiện môi trường thuận lợi mà nấm bệnh sinh trưởng và phát triển để kịp thời dự báo và phòng tránh dịch bệnh. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về Keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia rồi đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới.
Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới. Trong đó Philippin, Malaysia, Thái lan, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh, Fiji, Trung Quốc và Việt Nam. Chúng có sức sinh trưởng nhanh, trên điều kiện lập địa ở Sabah - Malaysia sau 10 - 13 năm cây đạt chiều cao 20 – 25 m và đường kính 20 – 30 cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44m3/ha/năm và cũng ở Sabah trong một khảo nghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 20,17 m và đường kính 14,4 cm [6]. Keo tai tượng được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 có khoảng 200.000 ha keo được trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20.
Cho đến năm 2008 có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130ha, Keo tai tượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ. Dựa vào sinh trưởng và dạng thân chọn được các xuất xứ có triển vọng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo (PNG). Trung Quốc đã xây dựng được 40ha rừng giống, vườn giống tại Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vườn giống thế hệ 1 và 1,5. Theo ước tính, các rừng giống và vườn giống này có thể cung cấp khoảng 1.000kg hạt giống/năm [6].
n 5 Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm 1980. Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất của rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32m3/ha/năm ở Tal ogon. Qua khảo nghiệm đã xác định được 4 xuất xứ tốt nhất là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld) [6]. Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng Keo tai tượng ở Sabah - Malaysia khoảng 14.
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ 6 tuổi cho thấy 3 xuất xứ có triển vọng là Western Province (PNG), Claudie River (Qld) với D1.3 = 19,1cm và Olive River (Qld) với giá trị tương ứng là 18,7cm. Còn ở khảo nghiệm xuất xứ 5 tuổi xác định được 3 xuất xứ tốt nhất là Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld). Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000ha rừng trồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16%. Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5m/năm trong 2,5 năm đầu [6].
Việc trồng Keo tai tượng trên quy mô công nghiệp đã được triển khai ở Indonesia từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ [21]. Nghiên cứu về bệnh hại Keo Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học có nhiều cống hiến cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn. Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, Roger L.
Trong đó có một số bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn …. John Boyce (1961) xuất bản sách Bệnh n 6 cây rừng (Forest pathology) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada. (1954) đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo.
Cây keo khô héo làm lá rụng và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerella cingulata (giai đoạn vô tính là Colletotrichum gloeosporioides) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo tai tượng Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO, 1981). Tại Malaysia, theo nghiên cứu của Lee (1993) loài nấm này còn gây hại với các loài keo khác. Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng công bố nhiều loại nấm bệnh hại keo. (1953) Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan.
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo. Đó là Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A.simsii; Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A.melanoxylon; Oidium sp. auriculiformis ở Trung Quốc nhưng loài A.confusa (Đài Loan tương tư) địa phương lại không bị. Các nghiên cứu về các loại bệnh ở keo Acacia cũng đã được tập hợp khá đầy đủ vào cuốn sách “Cẩm nang bệnh keo nhiệt đới ở Ôxtrâylia, Đông Nam Á và Ấn Độ” (A Manual of Diseases of Tropical Acacias in Australia, South-east Asia and India), trong đó có các bệnh khá quen thuộc đã từng gặp ở nước ta như bệnh bệnh phấn trắng (Powdery mildew) do nấm Oidium sp., bệnh đốm lá do nấm Pestalotiopsis neglecta, do nấm Phyllosticta spp.…, bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor, rỗng ruột (Heart rot) do các loài nấm thuộc chi Ganoderma và Phellinus, bệnh chết héo do mấn Ceratocystis sp.
Chưa có nhiều tài liệu thông báo về nghiên cứu chọn giống kháng bệnh cho các loài Keo, mà các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc nâng cao năng suất và n 7 trong thời gian qua các bệnh ở keo chưa phát triển thành dịch lớn, gây hại nghiêm trọng như ở bạch đàn. Nhiều công trình nghiên cứu đã được ra đời không chỉ ở cây Keo mà còn rất nhiều các loài cây khác có giá trị khác nữa như: Dudley N.S và cộng sự năm 2005 đã công bố kết quả nghiên cứu về chọn giống kháng bệnh đối với Acacia koa. Các gia đình Acacia koa được gây nhiễm với nấm gây bệnh héo rũ Fusarium oxysporum f. Kết quả cho thấy tính mẫn cảm với nấm gây bệnh rất khác nhau giữa các gia đình khảo nghiệm.