chương I của đề tài. Ảnh hƣởng của thƣơng mại tới môi trƣờng Thứ nhất, thương mại ảnh hưởng đến môi trường bởi tính chất của hoạt động này. Thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán, là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, do vậy vừa là nguyên nhân lây lan ô nhiễm vừa có thể phổ biến một cách nhanh nhất những sản phẩm và công nghệ thân thiện với môi trường. Thứ hai, thương mại ảnh hưởng đến môi trường bởi tính quy mô của nó.
Thương mại quốc tế ngày nay mang tính toàn cầu. Do đặc tính này mà thương mại có thể mở rộng quy mô của sản xuất thông qua sử dụng các phương pháp sản xuất ngày càng hiệu quả, sản xuất nhiều hàng hoá hơn trên cùng một đơn vị lao động, tài nguyên và công nghệ. Như vậy thương mại góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tăng quy mô thương mại cũng làm tăng nhu cầu bảo vệ môi trường sống của con người.
Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô sản xuất do tác động của thương mại tự do cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Một mặt, hoạt động này làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mặt khác, quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất thải ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Điều này có thể thấy rất rõ về tình trạng rác thải và chất phát thải gây hiệu ứng nhà kính ở các nước phát triển.
Thứ ba, một khía cạnh tác động khác của thương mại đối với môi trường là tính chất cơ cấu của nó. Thương mại có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản xuất của một nước theo nguyên tắc lợi thế so sánh, tức là, tập trung sản xuất những mặt hàng có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá khác. Nếu cơ cấu sản xuất chuyển sang những hàng hoá ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương mại có tác dụng tốt đối với môi trường. Tuy nhiên, nếu một nước có khả năng cạnh tranh tốt đối với những sản phẩm dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc những hàng hoá khi sản xuất chúng có khả năng ô nhiễm cao thì thương 12 mại lại làm cho nước đó bị gia tăng ô nhiễm môi trường, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên [5, 20].
Tác động của thương mại đối với môi trường được thể hiện rõ nét trong trong điều kiện tự do hóa thương mại. Nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ và cơ chế tác động giữa thương mại và môi trường cho thấy rằng, tăng trưởng kinh tế làm tăng các chi phí để bảo vệ môi trường và bảo vệ môi trường nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên là điều kiện để tăng trưởng thương mại [19, 25]. Dựa trên quan điểm cơ bản đó GATT đã công bố một báo cáo đặc biệt về “Thương mại và môi trường”, trong đó nêu lên cơ chế tác động của thương mại đối với môi trường [23, 56]. Trong điều kiện tự do hóa thương mại, tác động đó mang tính hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
(1) Tác động tích cực: - Tự do hóa thương mại tạo cho người tiêu dùng nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm xanh và sạch. Một khi thu nhập gia tăng, nhu cầu về các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường cũng tăng theo. Do vậy nhà nước có thể nâng cao các tiêu chuẩn về môi trường. - Những công nghệ sản xuất ít gây tổn hại đến môi trường sẽ được phát triển tại những nước có luật bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và thương mại là con đường tốt nhất để truyền bá các công nghệ đó.
- Tự do hóa thương mại sẽ tháo bỏ các khoản trợ cấp, vốn là rào chắn của thương mại, và điều đó có tác dụng tích cực đến việc bảo vệ môi trường. - Sự hợp tác đa phương là vô cùng cần thiết để giải quyết các vấn đề môi trường và tự do hóa thương mại sẽ tạo ra bầu không khí tốt đẹp nhất cho sự hợp tác đó. 13 (2) Tác động tiêu cực: - Thương mại là cơ chế luân chuyển hàng hóa và dịch vụ sản xuất từ địa điểm này sang tiêu dùng tại địa điểm khác. Đặc tính này tạo cho người tiêu dùng khả năng hưởng thụ các sản phẩm tại đất nước mình không có hoặc không có khả năng sản xuất.
Song nếu các hàng hóa xuất khẩu được sản xuất ồ ạt theo cách thức phá huỷ môi trường nhiều hơn các loại hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng trong nước, thì đương nhiên việc sản xuất hàng hóa cho mục đích thương mại sẽ gây ra nhiều hậu quả môi trường nghiêm trọng. - Tự do hóa thương mại có xu hướng làm tăng các hoạt động kinh tế. Điều đó có nghĩa là sẽ có nhiều hơn nữa nguyên liệu, năng lượng được sử dụng vào các hoạt động kinh tế. Sự gia tăng này là cần thiết, song không nhất thiết phải duy trì thường xuyên.
Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, nếu năng lượng đầu vào cho mỗi đơn vị sản phẩm giảm theo thời gian thì việc mở rộng sản lượng đầu ra không dẫn tới sự gia tăng tiêu dùng năng lượng. - Các cơ hội thương mại cũng như việc mở rộng các hoạt động kinh tế còn kéo theo nhiều thay đổi trong việc sở hữu đất đai, tài sản, cách thức sử dụng đất đai, đe dọa môi trường tự nhiên. Một mặt với mục đích tăng lợi nhuận, hàng loạt các kỹ thuật hiện đại được sử dụng trong nông nghiệp như thâm canh tăng vụ, lạm dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học đã phá huỷ cân bằng sinh thái, thúc đẩy nhanh quá trình bạc màu của đất. Mặt khác những người dân bị tước đoạt đất đai buộc lòng phải di chuyển vào các khu vực rừng núi, đồi trọc hoang vu vốn không phù hợp với các hoạt động canh tác và gây ra sự phá huỷ môi trường.
- Tự do hóa thương mại trên quy mô toàn cầu sẽ bỏ qua các yếu tố môi trường giống như tình trạng tự do hóa thị trường trong nước đã thất bại khi phân bổ các nguồn tài nguyên. Nguyên nhân chính ở đây là có sự khác biệt giữa chi phí cá nhân và chi phí xã hội. Giá cả của hàng hóa và dịch vụ không phản ánh đúng giá trị cũng như mức độ khan hiếm của nó. Hay nói cách khác, tự do hóa thương mại trên quy mô lớn sẽ tạo ra thất bại của thị trường ở mức độ cao hơn và hậu quả của nó là sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên.
Tóm lại, tự do hóa thương mại là một xu hướng tất yếu của thời đại. Quá trình này có thể gây ra những tác động tích cực và tiêu cực đối với môi trường. Các quy định và tiêu chuẩn môi trường quốc tế đóng vai trò quyết định trong việc hạn chế các tác động tiêu cực của tự do hoá thương mại đối với môi 14 trường. Tuy nhiên, chúng cũng có thể tạo ra những hạn chế đối với thương mại tự do.
Vấn đề cơ bản là phải có sự kết hợp hài hoà giữa hai mục đích để đạt được sự phát triển bền vững. HỆ THỐNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƢỜNG LIÊN QUAN ĐẾN THƢƠNG MẠI Trong những năm gần đây, quan hệ chặt chẽ giữa thương mại và môi trường đã trở thành một vấn đề ngày càng quan trọng trong các mối quan hệ thương mại quốc tế. Nhận thức ngày càng tăng về sự cần thiết phải bảo vệ mô i trường và thúc đẩy phát triển bền vững các nguồn lực sẵn có đã hình thành nên các biện pháp chính sách môi trường. Các biện pháp đó thường được thể hiện dưới dạng các quy định hoặc tiêu chuẩn và được các chính phủ thực thi thông qua các công cụ pháp lý hoặc các công cụ kinh tế [20, 337].
Các công cụ pháp lý được sử dụng như là các biện pháp kiểm soát và bắt buộc, bao gồm: - Các tiêu chuẩn quy định những đặc tính của sản phẩm; - Các quy định về các phương pháp sản xuất và chế biến (PPM) và các tiêu chuẩn về ô nhiễm; - Cấm xuất nhập khẩu các mặt hàng độc hại hoặc gây nguy hại cho sức khỏe; - Hạn chế xuất nhập khẩu để bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; - Các yêu cầu về bao bì đóng gói và nhãn mác. Các công cụ kinh tế bao gồm các khoản thuế đánh vào sản phẩm độc hại hoặc gây nguy hại cho sức khỏe; phí đối với sản phẩm phế thải, các biện pháp kiểm soát dựa vào giá cả và trợ cấp môi trường [20, 349]. Việc lựa chọn sử dụng công cụ pháp lý hay kinh tế phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của một nước và được quyết định trên cơ sở từng trường hợp. Bất cứ sự lựa chọn nào cũng nên cân nhắc đến các yếu tố như tính hiệu lực về môi trường, tính hiệu quả kinh tế, chi phí và tính khả thi về mặt hành chính, tính công bằng và khả năng được xã hội chấp nhận.
Dưới đây sẽ xem xét một số biện pháp và công cụ chính sách môi trường chủ yếu được sử dụng trong thương mại quốc tế hiện nay. Các phƣơng pháp chế biến và sản xuất theo quy định môi trƣờng (PPM) Các tiêu chuẩn có thể được phân chia một cách tương đối thành hai loại: tiêu chuẩn sản phẩm và tiêu chuẩn PPM. Các tiêu chuẩn sản phẩm quy định các đặc tính của sản phẩm (như độ an toàn sản phẩm, kích thước, kiểu dáng) và các yêu cầu về đóng gói và nhãn mác. Các chuẩn PPM quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào.
Các tiêu chuẩn PPM áp dụng cho giai đoạn sản xuất, nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tung ra bán ở thị trường. Về mặt môi trường, việc xem xét quy trình sản xuất là để giải quyết một trong 3 câu hỏi trọng tâm của quá trình quản lý môi trường: sản phẩm được sản xuất như thế nào, sản phẩm được sử dụng như thế nào và sản phẩm được vứt bỏ như thế nào và những quá trình này có làm tổn hại đến môi trường hay không. Những quy định và tiêu chuẩn về phương pháp chế biến được áp dụng để hạn chế chất thải ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo. Đây là những quy định và tiêu chuẩn đối với công nghệ, quá trình để sản xuất sản phẩm nhằm đánh giá xem quá trình sản xuất có gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường hay không.