Tổng quan nghiên cứu

Bệnh sỏi tiết niệu là bệnh lý phổ biến trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam, chiếm tỷ lệ từ 40% đến 60% tổng số các bệnh lý tiết niệu nhập viện. Trong đó, sỏi thận chiếm khoảng 40% các trường hợp và tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi lao động từ 30 đến 60 tuổi, với tỷ lệ mắc ở nam giới cao vượt trội so với nữ giới. Sự hiện diện của sỏi đài bể thận nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như ứ nước thận, nhiễm trùng tiết niệu tái diễn, viêm thận bể thận mạn tính và suy giảm chức năng thận không hồi phục.

Phẫu thuật nội soi ngược dòng tán sỏi bằng ống soi mềm (Retrograde Intrarenal Surgery - RIRS) sử dụng năng lượng laser Holmium đang khẳng định vai trò là kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn tối ưu, từng bước thay thế mổ mở và tán sỏi qua da đối với các trường hợp sỏi thận có kích thước nhỏ hơn hoặc bằng 20 mm. Nghiên cứu được thực hiện nhằm hai mục tiêu trọng tâm: đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ngược dòng bằng ống soi mềm điều trị sỏi thận tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City trong thời gian từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sạch sỏi và độ an toàn của phẫu thuật trên cỡ mẫu 80 bệnh nhân. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp số liệu lâm sàng chuẩn mực, giúp nâng tỷ lệ sạch sỏi kỳ vọng lên trên 85%, kiểm soát tỷ lệ biến chứng ngoại khoa dưới mức 15%, rút ngắn thời gian điều trị nội trú xuống dưới 2 ngày và chuẩn hóa kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn cho chuyên ngành Ngoại tiết niệu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quang nhiệt học trong tán sỏi laser Holmium: YAG công suất 100W kết hợp sợi dẫn quang 272 µm, cho phép truyền dẫn xung năng lượng cao làm bốc hơi nước nội bào và tán vụn cấu trúc tinh thể sỏi ở mọi vị trí đài bể thận. Mô hình giải phẫu đài dưới thận của Elbahnasy (1998) được áp dụng làm khung đánh giá khả năng tiếp cận sỏi thông qua 3 chỉ số then chốt: góc bể thận - đài dưới (Lower-pole Infundibulopelvic Angle - LIP, phân ngưỡng 45 độ), chiều dài cổ đài dưới (Infundibular Length - IL, phân ngưỡng 3 cm) và chiều rộng cổ đài dưới (Infundibular Width - IW).

Nghiên cứu sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực theo Hội Tiết niệu châu Âu (EAU), bao gồm: phẫu thuật nội soi thận ngược dòng (RIRS), tỷ lệ sạch sỏi (Stone Free Rate - SFR, định nghĩa là sạch hoàn toàn sỏi hoặc chỉ còn mảnh vụn sỏi đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 4 mm không gây tắc nghẽn), đơn vị đậm độ Hounsfield (ngưỡng phân tầng 1000 HU trên phim cắt lớp vi tính), và thang phân loại biến chứng ngoại khoa Clavien-Dindo cải biên gồm 5 mức độ từ các rối loạn nhẹ tự hồi phục đến các biến chứng đe dọa tính mạng.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 80 hồ sơ bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận kích thước đo trên chiều lớn nhất từ 8 mm đến 20 mm trên phim chụp cắt lớp vi tính 512 lát cắt có dựng hình hệ tiết niệu, được chỉ định và thực hiện phẫu thuật RIRS tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện lấy toàn bộ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu, loại trừ các ca bệnh có dị dạng đường tiết niệu bẩm sinh, thận ứ nước độ 4, nhiễm trùng niệu chưa được kiểm soát và bệnh nhân dưới 16 tuổi.

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hai giai đoạn: hồi cứu 10 tháng (từ tháng 01/2024 đến tháng 10/2024) và tiến cứu 8 tháng (từ tháng 11/2024 đến tháng 06/2025). Toàn bộ dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm thống kê y học SPSS phiên bản 26. Các biến số định lượng được kiểm định phân phối chuẩn, trình bày dưới dạng giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn và so sánh bằng phép kiểm t-test hoặc ANOVA. Các biến số định tính được mô tả bằng tần số, tỷ lệ phần trăm và kiểm định mối liên quan bằng phép kiểm Chi-square hoặc Fisher's exact test với ngưỡng ý nghĩa thống kê xác lập tại p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 80 người bệnh ghi nhận độ tuổi trung bình là 48 ± 11,9 tuổi, khoảng tuổi dao động từ 26 đến 76 tuổi. Nhóm bệnh nhân trong độ tuổi lao động từ 26 đến 60 tuổi chiếm ưu thế vượt trội với 81,2% (65 bệnh nhân), trong khi nhóm trên 60 tuổi chỉ chiếm 18,8% (15 bệnh nhân). Phân bố giới tính cho thấy nam giới chiếm 68,7% (55 bệnh nhân) và nữ giới chiếm 31,3% (25 bệnh nhân), xác lập tỷ lệ nam trên nữ đạt 2,2 lần.

Lý do vào viện phổ biến nhất là triệu chứng đau âm ỉ vùng thắt lưng, ghi nhận ở 70,0% trường hợp (56 bệnh nhân), cao hơn nhiều so với cơn đau quặn thận cấp tính chiếm 11,2% (9 bệnh nhân), tình cờ phát hiện sỏi qua khám định kỳ chiếm 8,7% (7 bệnh nhân), vào viện theo lịch hẹn chiếm 6,3% (5 bệnh nhân) và đái máu chỉ chiếm 3,8% (3 bệnh nhân).

Về tiền sử can thiệp ngoại khoa trên cùng bên thận nghiên cứu, có 20,0% bệnh nhân (16 trường hợp) từng trải qua các can thiệp sỏi trước đó, cụ thể gồm: nội soi niệu quản tán sỏi ngược dòng chiếm 10,0% (8 bệnh nhân), tán sỏi thận ngoài cơ thể chiếm 6,2% (5 bệnh nhân), phẫu thuật mở lấy sỏi thận chiếm 2,5% (2 bệnh nhân) và tán sỏi thận qua da chiếm 1,3% (1 bệnh nhân). Đáng chú ý, chỉ có 6,2% bệnh nhân (5 trường hợp) được đặt sẵn ống thông JJ trước mổ, trong khi 93,8% (75 trường hợp) thực hiện nội soi ngược dòng thì đầu mà không có chuẩn bị niệu quản từ trước.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ áp đảo của triệu chứng đau âm ỉ thắt lưng (70,0%) phản ánh đặc tính diễn tiến thầm lặng của sỏi thận kích thước dưới 20 mm nằm trong các đài bể thận, không gây tắc nghẽn niệu quản đột ngột như sỏi rơi xuống đường dẫn niệu. Tỷ lệ nam giới chiếm 68,7% hoàn toàn tương đồng với các báo cáo dịch tễ học tiết niệu trong nước, liên quan mật thiết đến yếu tố nghề nghiệp, thói quen uống ít nước và các yếu tố chuyển hóa đặc thù.

Dữ liệu nghiên cứu được trình bày trực quan thông qua các bảng phân bố tần số kết hợp biểu đồ cột so sánh đặc điểm lâm sàng và các bảng ma trận chéo kiểm định mối liên quan giữa các yếu tố sỏi với tỷ lệ sạch sỏi. So sánh với các nghiên cứu trong nước, tỷ lệ thành công của kỹ thuật RIRS tại Vinmec Times City đạt mức độ tương đồng cao với nghiên cứu của Hoàng Long (2022) đạt tỷ lệ sạch sỏi sau 1 tháng là 91,7% với thời gian nằm viện 1,4 ngày, và nghiên cứu của Bùi Đăng Ngọc (2024) tại Bệnh viện 108 ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi sau 1 tháng đạt 83,1% trên 71 bệnh nhân.

Sự hiện diện của 20% bệnh nhân có tiền sử can thiệp thận cùng bên đặt ra thách thức về mặt kỹ thuật do nguy cơ hẹp cổ đài, xơ dính bể thận hoặc thay đổi góc trục đài dưới. Tuy nhiên, việc ứng dụng ống soi mềm kỹ thuật số AccuTech 7,8 Fr có góc uốn cong hai chiều đạt 275 độ kết hợp ống sheath 12 Fr giúp kiểm soát tốt áp lực nội bể thận, hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương niêm mạc niệu quản và cho phép đưa rọ Nitinol 2,2 Fr tiếp cận, gắp sỏi đài dưới ra vị trí bể thận thuận lợi để tán vụn triệt để bằng laser Holmium.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình đánh giá hình ảnh học cắt lớp vi tính trước phẫu thuật. Bác sĩ phẫu thuật Tiết niệu cần phối hợp chặt chẽ với khoa Chẩn đoán hình ảnh thực hiện đo lường đầy đủ 100% các chỉ số giải phẫu bao gồm: góc LIP, chiều dài IL, chiều rộng IW và mật độ Hounsfield của sỏi trên hệ thống lưu trữ PACS trong vòng 24 giờ trước mổ, nhằm xây dựng chiến lược tiếp cận phù hợp cho từng vị trí đài thận.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình kỹ thuật tán sỏi bằng laser kết hợp dụng cụ hỗ trợ. Đội ngũ phẫu thuật viên ngoại niệu cần tuân thủ nguyên tắc tán sỏi thành dạng bụi mịn nhỏ hơn 2 mm bằng máy laser Holmium 100W, chủ động sử dụng rọ gắp Nitinol 2,2 Fr để đổi vị trí sỏi đài dưới sang đài trên hoặc bể thận trước khi phát xung, mục tiêu duy trì tỷ lệ sạch sỏi tức thì trên 85% và giữ thời gian phẫu thuật trung bình dao động từ 45 đến 60 phút.

Thứ ba, siết chặt công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đường tiết niệu chu phẫu. Khoa Ngoại tiết niệu phối hợp cùng Đơn vị Vi sinh thực hiện cấy nước tiểu tầm soát cho 100% người bệnh trước can thiệp, đảm bảo chỉ tiến hành phẫu thuật khi kết quả vi sinh âm tính hoặc đã được điều trị kháng sinh thích hợp theo kháng sinh đồ, đồng thời chỉ định tiêm kháng sinh dự phòng Ceftriaxone liều 2g tĩnh mạch trước rạch da hoặc khởi mê từ 30 đến 60 phút, hướng đến mục tiêu kéo giảm tỷ lệ sốt và nhiễm trùng tiết niệu sau mổ xuống dưới mức 5% trong giai đoạn 2025-2026.

Thứ tư, thiết lập phác đồ theo dõi và tái khám ngoại trú định kỳ sau can thiệp. Bác sĩ điều trị cần lập kế hoạch rút ống thông JJ sau 2 đến 4 tuần bằng phương pháp nội soi bàng quang gây tê tại chỗ, chỉ định chụp phim X-quang hệ tiết niệu và siêu âm thận đánh giá mức độ sạch sỏi tại các thời điểm 1 tháng và 3 tháng sau xuất viện, đảm bảo phát hiện sớm 100% các biến chứng hẹp niệu quản muộn hoặc sót sỏi tái phát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Bác sĩ chuyên khoa Ngoại tiết niệu và học viên Bác sĩ Nội trú: Nắm vững quy trình thao tác chuẩn của kỹ thuật RIRS, kỹ năng sử dụng ống sheath 12 Fr kết hợp máy laser Holmium công suất 100W, đồng thời tiếp thu các giải pháp kỹ thuật di chuyển sỏi đài dưới khó tiếp cận dựa trên bằng chứng thực tế từ 80 ca lâm sàng.

Học viên Cao học và Nghiên cứu sinh Y học: Tham khảo mô hình thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa hồi cứu và tiến cứu, phương pháp thu thập biến số lâm sàng chuẩn mực trên hệ thống bệnh án điện tử và quy trình xử lý số liệu y sinh học chuyên sâu bằng phần mềm SPSS 26 với các phép kiểm định t-test, Chi-square và Fisher's exact.

Nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc các bệnh viện đa khoa: Đánh giá hiệu quả kinh tế y tế và chất lượng điều trị của kỹ thuật RIRS thông qua các chỉ số thực chứng như thời gian nằm viện trung bình chỉ từ 1 đến 2 ngày, tỷ lệ tai biến thấp và mức độ hài lòng của người bệnh, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hệ thống máy nội soi mềm và nguồn phát laser hiện đại.

Bác sĩ đa khoa và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Nâng cao năng lực nhận diện sớm các biểu hiện của sỏi thận từ triệu chứng đau âm ỉ thắt lưng chiếm 70%, nâng cao chất lượng tư vấn chỉ định điều trị ít xâm lấn và hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ chế độ chăm sóc, theo dõi sau khi đặt ống thông JJ.

Câu hỏi thường gặp

Phẫu thuật nội soi ngược dòng bằng ống soi mềm (RIRS) có tỷ lệ sạch sỏi là bao nhiêu? Theo các nghiên cứu lâm sàng trong và ngoài nước, RIRS điều trị sỏi thận kích thước dưới 20 mm đạt tỷ lệ sạch sỏi tức thì từ 80% đến 88% và tăng lên 85% đến 95% sau 1 tháng. Tiêu chuẩn sạch sỏi lâm sàng được xác lập khi hình ảnh chụp X-quang hoặc cắt lớp vi tính không còn hình ảnh cản quang hoặc chỉ còn các mảnh sỏi vụn nhỏ hơn hoặc bằng 4 mm tự đào thải.

Những trường hợp sỏi thận nào được chỉ định ưu tiên thực hiện kỹ thuật RIRS? Theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu châu Âu năm 2023, RIRS là lựa chọn chỉ định đầu tay cho sỏi đài bể thận kích thước dưới hoặc bằng 20 mm, sỏi đài dưới lớn hơn 10 mm có giải phẫu không thuận lợi cho tán sỏi ngoài cơ thể, sỏi sót sau tán sỏi qua da hoặc phẫu thuật mở, và người bệnh có rối loạn đông máu hoặc thể trạng béo phì.

Bệnh nhân sau khi tán sỏi bằng ống soi mềm cần nằm viện điều trị bao lâu? Do kỹ thuật RIRS hoàn toàn can thiệp qua đường tự nhiên từ niệu đạo lên thận, không rạch da và không gây tổn thương nhu mô thận nên thời gian hậu phẫu diễn ra rất nhanh. Hầu hết người bệnh chỉ cần nằm viện từ 1 đến 2 ngày (khoảng 24 đến 48 giờ) để theo dõi nước tiểu và dùng kháng sinh dự phòng trước khi xuất viện sinh hoạt bình thường.

Mục đích của việc đặt ống thông JJ niệu quản và thời gian lưu ống là bao lâu? Sau phẫu thuật RIRS, 100% bệnh nhân được đặt ống thông JJ nhằm mục đích bảo vệ đường niệu, chống tắc nghẽn niệu quản do phù nề niêm mạc hoặc cục máu đông, đồng thời tạo thuận lợi cho các mảnh vụn sỏi đào thải ra ngoài. Ống thông JJ thường được lưu giữ an toàn trong cơ thể và được rút ra sau 2 đến 4 tuần qua nội soi bàng quang.

Các biến chứng phẫu thuật nào thường gặp nhất sau can thiệp RIRS? Biến chứng sau RIRS chủ yếu ở mức độ nhẹ thuộc phân độ Clavien-Dindo 1 và 2, bao gồm đái máu vi thể hoặc đại thể thoáng qua (tỷ lệ dưới 5%) và sốt hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu nhẹ (chiếm từ 6% đến 12%). Các biến chứng nghiêm trọng như thủng niệu quản hoặc nhiễm trùng huyết rất hiếm gặp nhờ việc kiểm soát tốt áp lực tưới rửa qua ống sheath.

Kết luận

  • Phẫu thuật nội soi ngược dòng bằng ống soi mềm kỹ thuật số điều trị sỏi thận kích thước dưới 20 mm đạt tỷ lệ sạch sỏi cao trên 85%, khẳng định tính an toàn và hiệu quả điều trị vượt trội.
  • Nghiên cứu trên 80 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City giai đoạn 2024-2025 ghi nhận độ tuổi trung bình 48 tuổi, nam giới chiếm đa số với 68,7% và 70% bệnh nhân nhập viện vì đau âm ỉ thắt lưng.
  • Kỹ thuật RIRS sử dụng ống sheath niệu quản 12 Fr phối hợp nguồn năng lượng laser Holmium 100W giúp tán vụn sỏi hiệu quả, kiểm soát tốt áp lực đài bể thận và giảm thiểu tổn thương niêm mạc.
  • Thời gian nằm viện ngắn từ 1 đến 2 ngày cùng tỷ lệ biến chứng thấp dưới 15% chứng minh ưu thế vượt trội của phương pháp can thiệp ít xâm lấn qua đường tự nhiên so với các phẫu thuật truyền thống.
  • Việc phân tích kỹ lưỡng các thông số giải phẫu đài dưới (góc LIP, chiều dài IL) và độ cứng sỏi trên cắt lớp vi tính 512 lát cắt đóng vai trò then chốt trong việc tiên lượng và lập kế hoạch phẫu thuật chuẩn xác.

Luận văn đã đóng góp cơ sở dữ liệu lâm sàng thực nghiệm giá trị, góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật RIRS tại các trung tâm ngoại khoa hiện đại. Trong giai đoạn 2026-2027, các nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm với cỡ mẫu trên 200 bệnh nhân cần tiếp tục được triển khai nhằm theo dõi tỷ lệ tái phát sỏi sau 12 tháng. Độc giả, các bác sĩ chuyên khoa Tiết niệu và học viên sau đại học hãy tải toàn văn tài liệu để nghiên cứu sâu hơn về quy trình phẫu thuật và ứng dụng phân tích số liệu y khoa vào thực tiễn điều trị.