phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm có 3 chƣơng. CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. CHƢƠNG 2: Nhu cầu kiến thức của ngƣời dân trong chăn nuôi lợn rừng và các nguồn lực trong cộng đồng hỗ trợ ngƣời dân thực hiện hoạt động chăn nuôi lợn rừng. CHƢƠNG 3: Ứng dụng công tác xã hội trong kết nối nguồn lực tại cộng đồng hỗ trợ kiến thức cho ngƣời dân thực hiện hoạt động chăn nuôi lợn rừng tại xã Vũ Oai, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm công cụ: 1. Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể về kinh tế, văn hóa cũng nhƣ nền tảng tƣ tƣởng mà công tác xã hội tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia lại có những đặc điểm riêng biệt.
Do đó, có rất nhiều định nghĩa về công tác xã hội. Định nghĩa của NASW(1970) nhấn mạnh đến mục tiêu trợ giúp các nhóm yếu thế của công tác xã hội khi cho rằng: công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cƣờng hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đó. Định nghĩa của ISFW (2000): Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con ngƣời, tăng năng lực và giải phóng cho ngƣời dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội, công tác xã hội tác động vào mối quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề. Xuất phát từ hoạt động thực tế tại Việt Nam, Nguyễn Thị Oanhđịnh nghĩa công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao đƣợc thực hiện theo những nguyên tắc và phƣơng pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ. Qua đó, công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc, phúc lợi và tiến bộ xã hội. Theo Nguyễn Hồi Loan: Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định, được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội.
Cộng đồng và phát triển cộng đồng Định nghĩa về cộng đồng có rất nhiều, có thể kể đến một số định nghĩa nhƣ sau: 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) định nghĩa: “Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên” Các đặc điểm đó có thể là đặc điểm về kinh tế, xã hội, vùng địa lý, tổ chức, môi trƣờng sống, huyết thống, mối quan tâm và quan điểm chung. Ví dụ: cộng đồng làng xã, khu dân cƣ, nhóm sở thích… Theo Redo – Trƣờng công tác xã hội và phát triển cộng đồng Philippine định nghĩa: “Cộng đồng là một đơn vị hành chính, lãnh thổ trong đó mọi người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chia sẻ các nền tảng chung như văn hóa, tô giáo, chủng tộc…họ chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể như nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, tai nạn thương tích trẻ em, thất học, bệnh tật, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”. Theo tác giả Trịnh Văn Tùng “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc. Cộng đồng ấy không nhất thiết phải sống chung trong một đơn vị hành chính lãnh thổ, họ chia sẻ những mối quan tâm về vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị kỳ thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”.
Các đặc điểm đó có thể là đặc điểm về kinh tế, xã hội, vùng địa lý, tổ chức, môi trƣờng sống, huyết thống, mối quan tâm và quan điểm chung. Ví dụ: cộng đồng làng xã, khu dân cƣ, nhóm sở thích…Từ định nghĩa chung này, chúng ta có thể có hai loại định nghĩa về cộng đồng : (1) Loại định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh đến các nhóm xã hội chung sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ, cùng chia sẻ các vấn đề xã hội chung, có mối liên hệ thuộc tính mạnh mẽ và có nghĩa vụ, trách nhiệm chung. Đặc trƣng của loại định nghĩa này chủ yếu hƣớng đến tính địa vực, tức là có ranh giới địa lý rõ ràng và thƣờng ám chỉ những cộng đồng ở nông thôn nhƣ một làng, một xã, một thôn, một bản… ; (2) Loại định nghĩa thứ hai nhấn mạnh đến tính liên kết, nhóm thuộc tính và đặc biệt là bản sắc của nhóm xã hội. Đặc trƣng của loại định nghĩa này là phi địa vực, tức là không xác định ranh giới địa lý, mà định hƣớng đến liên kết chặt chẽ qua bản sắc riêng của nhóm thuộc tính.
Đặc trƣng thứ hai của cộng đồng phi địa vực là thƣờng liên kết với nhau thông qua những công cụ truyền thông hiện đại. Khi ta nói đến cộng đồng của những ngƣời khuyết tật thì ranh giới địa phƣơng, quốc 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia và quốc tế trở nên rất mờ nhạt hoặc không tồn tại. Thay vào đó, ngƣời ta chú ý đến đặc trƣng vấn đề và đặc trƣng liên kết của cộng đồng ấy. Một quan niệm khác cho rằng: cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau (Korten, 1987).
Trong đời sống xã hội, có những vấn đề xã hội nảy sinh bao trùm lên cả một cộng đồng. Lý do nảy sinh các vấn đề này không chỉ xuất phát từ phía cá nhân, gia đình, nhóm xã hội mà phần lớn bắt nguồn từ môi trƣờng xã hội họ đang sống trong đó phải kể đến các yếu tố thể chế, chính sách và thiết chế xã hội. Để giải quyết những vấn đề này, bên cạnh sự tham gia của nhân viên công tác xã hội, đã hình thành phƣơng pháp làm việc với cộng đồng để có thể tạo ra sự thay đổi trên phƣơng diện cộng đồng nói riêng và xã hội nói chung. Một cộng đồng không phải là tập hợp các cá nhân mà là một tổ chức xã hội.Khi nói đến cộng đồng, ngƣời ta nói đến quan hệ xã hội, tƣơng tác xã hội, cảm giác của các cá nhân thuộc về cộng đồng, sự ảnh hƣởng của cộng đồng đối với cá nhân và ngƣợc lại.Vì vậy, để làm cho một cộng đồng phát triển và mạnh mẽ hơn, cần phải có cách tiếp cận riêng phù hợp với đặc trƣng, điều kiện và nguồn lực của cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng loại định nghĩa “Cộng đồng là tập hợp những người sống chung với nhau có chung những ràng buộc về kinh tế, xã hội, phong tục tập quán”, thuộc định nghĩa thứ nhất. Lý do vì định nghĩa này phù hợp với địa bàn nghiên cứu. Phát triển cộng đồng: Phát triển cộng đồng là một đặc trƣng của phát triển xã hội, là quá trình tăng trƣởng kinh tế cộng đồng cùng với sự tiến bộ theo hƣớng hoàn thiện các giá trị chân, thiện, mỹ. Phát triển cộng đồng có quan điểm, định hƣớng của nó, đó là: Phát triển cộng đồng phải dựa trên phƣơng pháp luận đi từ dƣới lên, xuất phát từ nhu cầu của chính ngƣời dân; phải đồng bộ, dựa trên mọi khía cạnh của cộng đồng.
Sự tham gia của công chúng là yếu tố cơ bản và từ đó họ phải đƣợc chuyển biến về nhận thức, năng lực và hành vi. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục tiêu của phát triển cộng đồng là phát triển con ngƣời và vì con ngƣời. Qui tắc của phát triển cộng đồng là phải tạo sự công bằng và mọi chƣơng trình hành động phải do cộng đồng tự quyết. Nguyên lý của phát triển cộng đồng: phát triển cộng đồng dựa trên phƣơng pháp tiếp cận từ dƣới lên tức là phát triển cộng đồng phải đƣợc xuất phát từ chính nhu cầu của của ngƣời dân.Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội kinh tế, xã hội và văn hoá phải cùng đƣợc nâng lên; sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng là rất quan trọng, sự tham gia của chính quyền phải đƣợc coi nhƣ là một nhân tố bên trong.Nó không phải là một lực lƣợng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà là một thành phần quan trọng của cộng đồng; tạo đƣợc sự chuyển biến xã hội đó là sự thay đổi nhận thức, hành vi của ngƣời dân nhằm mục đích phát triển; phát triển năng lực trên cơ sở không làm thay, làm cho ngƣời dân.Hoạt động đánh giá là một bƣớc đo lƣờng hiệu quả các dự án phát triển cộng dồng nhằm làm tăng tính hiệu quả và bền vững của các dự án.Nguồn lực và huy động nguồn lực Để hiểu rõ khái niệm “Huy động nguồn lực”, trƣớc tiên ta cần hiểu khai niệm “huy động” và “nguồn lực”: Để hiểu rõ khái niệm “Huy động nguồn lực”, trƣớc tiên ta cần hiểu khai niệm “huy động” và “nguồn lực”: - Huy động: Theo từ điển Tiếng Việt thì huy động là: “điều một số đông, một số lớn nhân lực, vật lực vào một công việc gì đó”.
Huy động là dùng cái có sẵn để làm thêm ra cái mình muốn có. Ý nghĩa ở đây là dùng cái vốn mình sẵn có để làm ăn bằng cách chính trực, công bằng. Không dùng thủ đoạn hay mƣu mô để tạo ra cái mình muốn có. - Nguồn lực: Theo định nghĩa chung nhất, nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó đóng vai trò riêng nhƣng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của sự vật, hiện tƣợng nào đó.
Tuy nhiên, có một số cách hiểu nguồn lực nhƣ sau: Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới, nguồn lực con ngƣời gồm có: 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.