Chương 1. Cơ sở lý luận về kết hợp ý tưởng kinh doanh với thương mại hóa sản phẩm R&D của DNKN; - Chương 2. Thực trang về kết hợp ý tưởng kinh doanh với thương mại hóa sản phẩm R&D của Công ty VNLIFE; - Chương 3. Giải pháp kết hợp ý tưởng kinh doanh với thương mại hóa sản phẩm R&D của DNKN.
CO SO LY LUAN VE KET HOP Y TUONG KINH DOANH VOI THUONG MAI HOA SAN PHAM R&D CUA DOANH NGHIEP KHOI NGHIEP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm sản phẩm R&D Theo Vũ Cao Đàm (2017), sản phẩm R&D là kết quả nghiên cứu ứng dụng (applied research), đó là sự vận dụng các quy luật từ trong nghiên cứu cơ bản (thường là nghiên cứu cơ bản định hướng) dé đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp, có thé bao gồm công nghệ, sản phẩm, vật liệu, thiết bị; nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng. Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thé là một giải pháp mới về tô chức, quản lý, xã hội hoặc công nghệ, vật liệu, sản phẩm, v.
Giải pháp hữu ích, sáng chế cũng là sản phẩm thuộc loại hình này. Hoạt động triển khai (development) còn được gọi là triển khai thực nghiệm (experimental development) hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật. Đặc trưng của triển khai là sự vận dụng các quy luật (thu được từ trong nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ trong nghiên cứu ứng dụng) dé đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật. Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: - Tạo mau (prototype): là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu, chưa quan tâm đến quy trình hình thành mẫu đó, chưa quan tâm đến quy mô áp dụng: 18 - Tạo quy trình: còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm va thử nghiệm công nghệ dé sản xuất ra sản phẩm theo mẫu vừa thành công trong giai đoạn thứ nhất (giai đoạn tạo mẫu); - Làm thí điểm loạt nhỏ: còn gọi là làm “Série 0” (Loạt 0).
Đây là giai đoạn kiêm chứng độ tin cậy của quy trình trên quy mô nhỏ. Tổng hợp từ những nghiên cứu trên, trong Luận văn này, thuật ngữ sản phẩm R&D được hiểu là: két qua nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, có thể thương mại hóa. Khái niệm thương mại hóa sản phẩm R&D Theo Trần Văn Hải (2011), trong hoạt động nghiên cứu khoa học có thé có nhiều dạng sản phẩm nghiên cứu, trong đó có sản pham có giá trị thương mại và cũng có sản phâm nghiên cứu không có/không thể có giá trị thương mại. Khi phân loại các kết quả nghiên cứu, nhận thấy: - Các kết quả nghiên cứu cơ bản là không thể thương mại hóa cho dù chúng thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội; - Các kết quả nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội không có giá trị thương mại và bởi vậy không thê thương mại hóa, quá trình chuyền giao các kết quả nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội vào thực tiễn không phải là quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; - Kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học y/dược, khoa học nông nghiệp là có thê thương mại hóa.
Khái niệm ý tưởng kinh doanh mới Y tưởng kinh doanh là một khái niệm chỉ việc cung cấp sản pham hoặc dich vụ cho khách hang dé thu được lợi ích tài chính. Là bước dau tiên trong việc thành lập doanh nghiệp, một ý tưởng kinh doanh có thé thúc đây doanh nghiệp đó đạt được mục tiêu của mình. Với một ý tưởng kinh doanh phù hợp 19 và được xác định rõ rang, doanh nghiệp đang tiễn một bước gan hơn đến việc bat đầu kinh doanh hoặc hỗ trợ tô chức hiện tại của minh phát triển các ý tưởng mới có thể thu hút một nhóm người tiêu dùng. (2015), ý tưởng kinh doanh (business idea) là một thuật ngữ dùng để chỉ ý tưởng trong hoạt động kinh doanh nhằm mục đích đạt được lợi ich tài chính, thường tập trung vào một sản phẩm hoặc dịch vụ mới có thể được cung cấp ra thị trường dé tạo ra lợi nhuận khác biệt.
Trước khi doanh nghiệp tiếp tục với ý tưởng kinh doanh của mình, một bước quan trọng là phải thực hiện đánh giá dé giúp cho doanh nghiệp xem xét tính khả thi của ý tưởng. Việc đánh giá ý tưởng kinh doanh có thể giúp tìm hiểu thêm về thị trường, sự cạnh tranh trên thị trường và nhu cầu của khách hang. Đây đều là những yếu tố quan trọng dé quyết định xem đó có phải là một ý tưởng đáng dé tiếp tục theo đuổi và phát triển hay không. Việc đánh giá kỹ lưỡng có thể giúp cho doanh nghiệp thực hiện các bước tiếp theo như lập kế hoạch kinh doanh, giải thích cho các nhà đầu tư hoặc chia xẻ trước với khách hàng tiềm năng.
Khi xem xét các yếu tố chính để khởi nghiệp thành công, một trong những yếu tố quan trọng nhất là có một ý tưởng khác biệt. Mặc dù có một nguồn nhân lực tốt và đủ nguồn lực tài chính là điều cần thiết để thành công, nhưng ý tưởng là động lực đăng sau sự thành công của bat kỳ hoạt động kinh doanh nào. Nó là thứ định hình và định hướng cho doanh nghiệp phát triển — nhất là với DNKN và xác định tiềm năng thị trường mà doanh nghiệp có thê có được trong tương lai. Với DNKN, ý tưởng đó phải có những đặc điểm quan trọng đổi mới và phù hợp với sự đón nhận của thị trường.
Đó phải là một ý tưởng giải quyết được vấn đề đang được đáp ứng nhưng không thỏa mãn hoặc đáp ứng nhu cầu chưa được đáp ứng trên thị trường. Mặc dù trên thực tế không có công thức 20 thành công chung cho tat cả các DNKN, nhưng đặc điểm rất quan trọng nay đảm bảo tính duy nhất tại thời điểm đó và đảm bảo tiềm năng phát triển trong tương lai. Ý tưởng này cũng cần có khả năng trình bày được một cách dé hiểu và thuyết phục với các nhà đầu tư có quan tâm và các khách tiềm năng để có được sự phản ứng tích cực từ họ. Như vừa nói ở trên, ý tưởng rất cần được nghiên cứu cân trọn trước khi trình bày với các nhà đầu tư.
Nó cần được kiểm tra kỹ lưỡng, đảm bảo rằng nó có thé đứng vững trước những phản biện hoặc thách thức. Việc triển khai ý tưởng như một dự án cũng cần có các mốc thời gian rõ ràng dé có thé theo dõi và đánh giá tiến độ. Bat kỳ van đề tiềm ấn nào cũng phải được xác định trước khi chúng trở thành van dé, giúp DNKN tránh được những sai lầm hoặc chậm trễ gây tốn kém và mắt cơ hội đưa ra thị trường. Khi quyết định xem một ý tưởng có tiềm năng hay không, điều quan trọng là phải xem xét liệu có thị trường tiềm năng vững chắc cho ý tưởng đó được đón nhận hay không.
Nếu đã có sự cạnh tranh đáng kế trong lĩnh vực này, ý tưởng sẽ cần phải đặc biệt sáng tạo hoặc đột phá dé trở nên nồi bật — đó chính là tính mới của ý tưởng. Nếu không có thị trường hiện tại, thì cần chỉ rõ thị trường tương lai của phẩm hoặc dịch vụ sẽ ở đâu. Cuối cùng, ý tưởng cũng cần nằm trong một mô hình kinh doanh rõ ràng. Điều này liên quan đến việc quyết định sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ được bán như thế nào và kết quả kinh doanh sẽ đến từ đâu, lợi ích tài chính và ph tài chính sẽ được tạo ra như thế nào, hỗ trợ cho một kế hoạch kinh doanh khả thi và đảm bao một tiềm năng phát trién mạnh mẽ.
Tóm lại, có một ý tưởng kinh doanh mới là một trong những yếu tố quan trọng nhất dé khởi nghiệp thành công. Y tưởng này phải có tính sáng tạo, phù hợp, được nghiên cứu kỹ lưỡng và có các khả năng kinh doanh trong một mô hình kinh doanh rõ ràng. Kém theo đó cũng cân có được tâm nhìn vê 21 tiềm năng phát triển trong một thị trường hiện có hoặc tạo ra một thị trường mới. Với sự kết hợp các yếu tố này của một ý tưởng kinh doanh mới, các DNKN có thé tang cơ hội thành công va dat được mục tiêu khởi nghiệp cua mình.
Như đã nói ở trên, ý tưởng kinh doanh là một khái niệm chỉ việc đạt được lợi ích (tài chính) khi đưa sản phẩm, dịch vụ ra thương mại (bán). Y tưởng là khởi đầu cho một quá trình xây dựng một DNKN thành công. Đặc điểm của một ý tưởng kinh doanh mới có tiềm năng thành công là: - Sáng tao (innovation); - Giải quyết một (hoặc nhiều) vấn đề; - Tạo ra lợi nhuận vượt trội. Y tưởng kinh doanh mới thường được liên hệ với việc định vi gia tri kinh doanh đề đưa ra thị trường và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Các ý tưởng kinh doanh mới thường được xuất phát từ: - Các khó khăn, thách thức chính doanh nghiệp, cá nhân gặp phải; - Các khó khăn, thách thức được biết từ các doanh nghiệp, cá nhân khác; - Nhận diện những sản phẩm, dịch vụ đã có nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường; - Nhận diện những sản phẩm, dịch vụ còn thiếu trong thị trường; - Nhận diện những sản phẩm, dịch vụ có khả năng đáp ứng nhu cầu tiềm năng trong tương lai; - Nhận diện những sản phẩm, dịch vụ có kha năng đáp ứng một (hoặc nhiều) nhóm đối tượng sẽ xuất hiện trong tương lai. Khái niệm ý tưởng kinh doanh như vậy là cầu nối kết dính giữa sản pham và dich vụ với thị trường và khách hàng, ý tưởng kinh doanh mới là cầu 22 nối những thứ được nhận diện là chưa được kết nối với nhau và sẽ đem lại sự phát triển đột biến cho DNKN. Khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp DNKN (tiếng Anh: start-up) là thuật ngữ chỉ những doanh nghiệp (công ty, tô chức) đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh ở đó việc kinh doanh nay dựa vào ý tưởng kinh doanh mới, mô hình kinh doanh mới hay công nghệ mới có khả năng phát triển rất nhanh hoặc mở rộng nhanh dé đưa ra những sản phẩm, dịch vụ vượt trội đáp ứng nhu cầu và tạo ra một thị trường khách hàng mới.