Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực trạng kế toán trách nhiệm tại các DN sản xuất ô tô ở Việt Nam Chương 5: Bàn luận và các khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHẬN DIỆN KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận án. KTTN nhận được sự quan tâm của các tác giả trong và ngoài nước cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, tác giả tổng quan các công trình theo hai hướng chính: (i) Các nghiên cứu về nội dung KTTN trong DN và (ii) Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KTTN trong DN. Trên cơ sở đó tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu cho đề tài.
Các nghiên cứu về nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp 1. Nội dung kế toán trách nhiệm trước năm 1965 Diemer và Hugo (1924) và Weger (1926) cho rằng KTTN được khởi xướng vào những năm 1920. Tuy nhiên, chỉ đến cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 KTTN mới phát triển nhanh chóng (Scapens và cộng sự, 1984; Zimnicki, 2016). Trong giai đoạn này, KTTN bao gồm những nội dung cơ bản sau: - Nhận diện và xác định trách nhiệm kế toán ở từng TTTN: Higgins (1952) cho rằng các TTTN được xác định phù hợp dựa vào sơ đồ tổ chức.
Các TTTN trong DN gồm 3 loại: TTCP, TTDT và TTLN. Tương tự, Kellogg (1962) cũng khẳng định rằng để thiết lập KTTN thì DN phải được phân chia thành các bộ phận và đơn vị theo từng chức năng cụ thể. Một nghiên cứu khác của Gordon (1963) cũng cho thấy quy trình thực hiện KTTN trong tổ chức được bắt đầu từ việc nhận diện các TTTN. Tuy nhiên khác với quan điểm của Higgins (1952), tác giả cho rằng chỉ có 2 loại TTTN trong đơn vị gồm TTCP và TTLN.
Sau khi thiết lập các TTTN thì DN phải tiến hành giao quyền và trách nhiệm cho các trung tâm đó (Kellogg, 1962). Trong giai đoạn này việc giao trách nhiệm tập trung vào các bộ phận chức năng và các cá nhân trong đơn vị (Hansen và Mowen, 2007). Do vậy, TTTN được xác định thường là một đơn vị hay bộ phận trong tổ chức như nhà máy, bộ phận hoặc dây chuyền sản xuất. KTTN giai đoạn này vì vậy đặt trọng tâm vào việc tối ưu hoá kết quả tài chính ở cấp đơn vị hay bộ phận của DN.
Trách nhiệm được xác định căn cứ trên khía cạnh tài chính, trong đó chủ yếu liên quan đến chi phí (Kellogg, 1962; Vlogel, 1962). Người quản lý chỉ chịu trách nhiệm đối với những khoản chi phí thuộc quyền kiểm soát của họ (Botham, 1924). Tương tự, Higgins (1952) cũng cho rằng người quản lý chỉ phải chịu trách nhiệm đối với những công việc mà họ có mức độ ảnh hưởng đáng kể hoặc kiểm soát trực tiếp. Đồng thuận với các quan điểm trên, Ferrara (1964) cũng đưa ra nhận định rằng 8 quản đốc của một nhà máy sản xuất chỉ chịu trách nhiệm với những chi phí mà họ kiểm soát trực tiếp và những chi phí họ kiểm soát gián tiếp thông qua cấp dưới của mình.
Do đó KTTN giai đoạn này đặt trọng tâm vào việc kiểm soát chi phí (Phillippe, 1959). - Lập dự toán: Một trong những điều kiện để thực hiện KTTN trong DN là các nhà quản trị đứng đầu mỗi TTTN phải tham gia vào việc lập dự toán ngân sách của trung tâm mình (Higgins, 1952). Tuy nhiên, dự toán giai đoạn này chủ yếu liên quan đến khía cạnh chi phí (Kellogg, 1962). Do vậy định mức chi phí và dự toán chi phí là nội dung trọng tâm của lập dự toán ngân sách trong DN (Scapens và cộng sự, 1984).
Việc xây dựng dự toán chi phí được thiết lập cho từng bộ phận trong tổ chức (organizational unit budgets) và là dự toán tĩnh (Hansen và Mowen, 2007). - Thu thập, xử lý thông tin thực hiện: Kellog (1962) cho rằng việc thực hiện KTTN trong DN nên được hướng dẫn bởi các quy tắc tương tự như áp dụng cho kế toán chi phí bao gồm: Xác định tài khoản kế toán để phản ánh các khoản mục chi phí; Mỗi tài khoản phải đại diện cho một nhóm chi phí để thuận lợi trong việc phân tích; Tất cả các khoản chi phí phải được ghi lại chi tiết theo trách nhiệm của bộ phận và cá nhân cụ thể. Vì vậy, KTTN giai đoạn này chủ yếu đi sâu vào việc thu thập và xử lý thông tin của TTCP mà chưa đề cập đến các loại TTTN khác (Lương Thị Thanh Việt, 2018). - Báo cáo KTTN: Các báo cáo được lập nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin tài chính mà trọng tâm là về chi phí tại các cấp trách nhiệm trong DN (Higgins, 1952).
Vì vậy KTTN giai đoạn này có liên hệ gần gũi với kế toán chi phí (Kellogg, 1962). Các báo cáo chi phí không chỉ lập thông thường mà thêm yếu tố kiểm soát chi phí và chỉ ra các bộ phận chịu trách nhiệm cụ thể. Đây cũng chính là một trong những đặc trưng của KTTN (Lương Thị Thanh Việt, 2018). Nghiên cứu sau này của Phillippe (1959) và Ferrara (1964) đã làm rõ hơn về cấp độ trách nhiệm cần báo cáo.
Các nghiên cứu này đều cho rằng có ba cấp độ trách nhiệm trong một nhà máy sản xuất gồm cấp công nhân, cấp phòng ban và cấp nhà máy. Đối với mỗi cấp độ, vấn đề chỉ đơn giản là truy nguyên các chi phí mà các cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện ở từng cấp. Khác với các quan điểm trên, Clarke (1961) lại cho rằng DN cần xác định các cấp độ trách nhiệm một cách rõ ràng, không nhất thiết là 3 cấp độ. Đối với mỗi cấp độ, các báo cáo phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu kiểm soát và đánh giá trách nhiệm thuộc mỗi cấp.
- Đánh giá thành quả ở các TTTN: Việc đo lường thành quả bộ phận xuất hiện ở những năm 1950 (Ashton và cộng sự, 1991). Các chỉ tiêu đo lường được xây dựng 9 phù hợp với tình trạng hiện tại và có xu hướng tương đối ổn định theo thời gian, KTTN giai đoạn này vì vậy nhấn mạnh vào đo lường thành quả tài chính thông qua khả năng đáp ứng hoặc phù hợp với tiêu chuẩn tài chính ổn định (Hansen và Mowen, 2007). Do ứng dụng của KTTN giai đoạn này đặt trọng tâm vào việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị để hỗ trợ họ kiểm soát chi phí và kiểm soát quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Anthony, 1965). Vì vậy việc đánh giá thành quả được thực hiện chủ yếu đối với TTCP (Kwang and Slavin, 1962; Zannetos, 1963; Ferrara, 1964).
KTTN vận dụng phương pháp kế toán chi phí truyền thống để phân bổ các chi phí chung liên quan đến các TTCP, cũng như tính toán và phân tích chênh lệch chi phí (chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung) thực hiện so với định mức hoặc dự toán để đánh giá thành quả ở TTCP (Kwang and Slavin, 1962; Weber, 1963; Zannetos, 1963; Ferrara, 1964). Nội dung kế toán trách nhiệm từ 1965 đến 1985 Trong giai đoạn này, một loạt các kỹ thuật mới đã được phát triển bởi các DN Nhật Bản để cạnh tranh tích cực với sự thống trị của các DN nước ngoài như phương pháp đúng sản phẩm - với đúng số lượng - tại đúng nơi - vào đúng thời điểm cần thiết (just in time - JIT), quản lý chất lượng toàn diện (total quality management - TQM). Trong khi ở Mỹ, các nhà quản trị nhận ra rằng quản lý các hoạt động thay vì quản lý chi phí là chìa khóa để kiểm soát thành công cho các DN hoạt động trong môi trường cải tiến liên tục. Điều này dẫn đến sự xuất hiện và ứng dụng mô hình quản lý dựa trên hoạt động (activity - based management - ABM) vào các DN nhằm cắt giảm chi phí một cách hiệu quả (Maccoville, 1993).
Do đó, KTQT nói chung và KTTN nói riêng đã có sự liên kết nhất định vào quá trình quản trị DN, đặc biệt là đánh giá các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng nhằm mục tiêu cắt giảm sự lãng phí nguồn lực trong hoạt động kinh doanh (IFAC, 1998). Kết quả là KTTN ở giai đoạn này vẫn kế thừa những nội dung ở giai đoạn trước, song có sự phát triển hơn và mang những nét đặc trưng, khác biệt, được thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau: - Các TTTN trong DN không chỉ có TTCP, TTDT và TTLN mà còn có cả TTĐT (Liao, 1973; Toy, 1978). Việc giao trách nhiệm tập trung vào các quy trình và các nhóm trong DN thay vì giao cho các bộ phận chức năng và cá nhân như giai đoạn trước. Do vậy KTTN giai đoạn này đặt trọng tâm vào việc tối ưu hoá kết quả tài chính của toàn bộ hệ thống (systemwide), đó là toàn bộ các quy trình và các nhóm (processes and teams) (Hansen và Mowen, 2007).
Quyền và trách nhiệm 10 được giao cho người quản lý không chỉ liên quan đến chi phí mà còn liên quan đến cả doanh thu, lợi nhuận và đầu tư (Vos và O'Connell, 1968; Liao, 1973; Toy, 1978). Tuy nhiên, việc gán trách nhiệm cho nhà quản trị liên quan đến khía cạnh đầu tư chưa thực sự được các DN chú trọng (Reece và Cool, 1978). - Khác với giai đoạn trước, nhà quản lý không chỉ chịu trách nhiệm với các chi phí họ kiểm soát mà còn chịu trách nhiệm với các chi phí phân bổ từ cấp trên (Anstine và Scott, 1980; Callen và Livnat, 1989). Việc quyết định các chi phí được tính vào một TTTN như sau (Anstine và Scott, 1980): (1) Nếu nhà quản lý có thẩm quyền với việc mua và sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thì nhà quản lý đó sẽ chịu trách nhiệm về các chi phí mua sắm và sử dụng đó; (2) Nếu nhà quản lý chỉ sử dụng các loại hàng hóa dịch vụ thì nhà quản lý đó sẽ phải chịu trách nhiệm về mức độ tiêu hao chi phí và (3) Ngay cả khi nhà quản lý không sử dụng các khoản chi phí đó thì họ cũng phải “gánh chịu những khoản chi phí” này do các nhà quản lý cấp cao yêu cầu các nhà quản lý cấp trung gian và cấp dưới phải chia sẻ trách nhiệm bởi phần lớn những khoản chi phí phân bổ này phát sinh từ các giao dịch mang về lợi ích chung cho toàn DN.