CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về lương và các khoản trích theo lương 1. Khái niệm về lương Theo khoản 1, điều 90, chương 6 của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 được ban hành: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
Người sử dụng lao động phải đảm bảo trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.” Bản chất của tiền lương là giá của sức lao động mà người lao động bỏ ra được xác định thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Mức lương thỏa thuận có thể chịu sự chi phối của quy luật cung – cầu trên thị trường, dựa trên trình độ chuyên môn và tùy thuộc vào từng lĩnh vực khác nhau của người lao động. Các nhân tố cấu thành nên tiền lương có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và kết nối với nhau giúp đảm bảo sự công bằng cho người lao động. • Kỳ hạn trả lương Kỳ hạn trả lương cho người lao động được quy định tại điều 97 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14: Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
Người lao động được hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ. Người lao động được hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng. 5 Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục những không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
• Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ, tết. • Lương cơ bản Lương cơ bản là mức lương thấp nhất mà người lao động nhận được khi làm việc tại một vị trí nào đó, phụ thuộc vào trình độ, yêu cầu năng lực của người lao động.
Lương cơ bản sẽ không bao gồm các khoản tiền phụ cấp, hỗ trợ của người sử dụng lao động dành cho người lao động. Lương cơ bản của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay được tính theo công thức : Lương cơ bản = Lương cơ sở x hệ số lương Hệ số lương của cán bộ, công chức, viên chức được quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP. 6 Lương cơ bản của người lao động làm việc cho doanh nghiệp, cá nhân sẽ là lương được thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa bao gồm các khoản chi phí hỗ trợ và phụ cấp. Lương cơ bản của người lao động ngoài khu vực Nhà nước sẽ có mức thấp nhất là bằng mức lương tối thiểu vùng.
Mức lương tối thiểu vùng hiện nay được quy định tại Điều 3 Nghị định 38/2022/NĐ-CP. • Lương tối thiểu Tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất người lao động được trả làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, quan hệ cung - cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động, khả năng chi trả của doanh nghiệp. Khái niệm về các khoản trích theo lương Nhà nước quy định về một số khoản trích theo lương của người lao động và người sử dụng lao động bao gồm bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và kinh phí công đoàn (KPCĐ).
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 và Luật bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung 2014. Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm sức khỏe, người mua bảo hiểm sẽ được chi trẻ một phần hoặc toàn bộ chi phí khám, điều trị,… nếu không may xảy ra ốm đau, tai nạn. Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội bao gồm 2 loại: bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình do Nhà nước quy định người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình do Nhà nước tổ chức mà người 7 tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội từ nhà nước để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 4 điều 3 Luật Việc làm 2013. Theo điều 5 Nghị định 191/2013/NĐ-CP, kinh phí công đoàn là nguồn tài trợ cho các hoạt động công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng trong hoạt động của đơn vị mình.
Pháp luật quy định trích 2% trên tổng số tiền lương mà các đơn vị sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động để đóng kinh phí công đoàn. Kinh phí công đoàn được trích sẽ được nộp vào công đoàn cấp trên một phần và phần còn lại sẽ được giữ để dùng cho các hoạt động công đoàn ở đơn vị. Hình thức thanh toán tiền lương Việc thanh toán tiền lương cho người lao động dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động, số lượng và chất lượng lao động. Hình thức trả lương được các doanh nghiệp lựa chọn dựa trên tính chất công việc và nhu cầu của người lao động.
Việc xác định tiền lương phải trả dựa trên số lượng và chất lượng công việc người lao động làm có ý nghĩa động lực to lớn, giúp khuyến khích và thúc đẩy tinh thần lao động và nâng cao hiệu suất làm việc của người lao động. Các hình thức trả lương gồm: • Hình thức trả lương theo thời gian Hình thức trả lương theo thời gian căn cứ vào thời gian làm việc của người lao động và hiệu suất làm việc của người lao động. Thời gian làm việc của người lao động gồm thời gian thực tế làm việc và thời gian được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa hai bên. Đối tượng áp dụng: Thường áp dụng với những công việc cố định, người lao động cần nhiều thời gian tích lũy kinh nghiệm, đầu tư nâng cao chất lượng công việc.
Tiền lương = Lương cơ bản + Phụ cấp Thực tế, trong doanh nghiệp tồn tại cách tính lương như sau: 8 Lương tháng = Lương thỏa thuận : Số ngày quy định đi làm trong tháng x Số ngày làm việc thực tế Ưu điểm: đơn giản, rất dễ hiểu, dễ áp dụng, phù hợp với những công việc không định mức, những lao động ở bộ phận gián tiếp, không thể xác định chính xác khối lượng công việc hoàn thành. Bên cạnh đó, cách tính lương này cũng đảm bảo cho nhân viên có khoản tiền thu nhập nhất định trong thời gian làm việc. Hình thức này được áp dụng rất phổ biến hiện nay khi ngành công nghiệp phát triển với mức độ cơ giới và tự động hóa ngày càng cao. Nhược điểm: chưa thực sự gắn kết giữa kết quả lao động sản xuất với chất lượng lao động của người lao động, chưa thúc đẩy người lao động phát huy hết hiệu suất làm việc.
• Hình thức trả lương theo sản phẩm Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả dựa trên số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm người lao động làm ra được người sử dụng lao động chấp nhận và đơn giá tiền lương được trả trên một đơn vị sản phẩm. Đối tượng áp dụng: Thường áp dụng với những công việc yêu cầu sản xuất một khối lượng hàng lớn trong thời gian nhất định.