CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN EMIN VIỆT NAM 1.ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN EMIN VIỆT NAM - Tổng số cán bộ, công nhân viên là 75 người. Trong đó + Có trình độ đại học và trên đại học là 40 người. + Trung cấp là 20 người. + Sơ cấp và chưa qua đào tạo là 15 người.
Công ty Cổ phần Emin Việt Nam là một doanh nghiệp có số lao động tương đối đông nhưng rất ổn định từ 75 người. Với đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ tương đối cao và ổn định, phần lớn họ đều được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và công nhân kỹ thuật nên khả năng làm việc tốt và hiệu quả cao, phát huy tốt khả năng của mình cũng như việc vận dụng kiến thức vào thực tế. Dù quân số đông nhưng Công ty bố trí phù hợp cho từng bộ phận nên kết cấu hợp lý, không bị xáo trộn mà vẫn tăng được quân số, tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động. Hàng năm Công ty cũng tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ bằng nhiều hình thức như cử đi học ở các trường đại học, trường công nhân kỹ thuật., cũng như việc đào tạo tại chỗ thường xuyên nhằm nâng cao trình độ, phấn đấu phát huy, tạo điều kiện phát triển Công ty.
Kết quả của việc phân công lao động hợp lý trong toàn Công ty đã giảm được lượng lao động mà vẫn tăng năng suất lao động. - Phân loại lao động trong Công ty : Cách phân loại lao động trong Công ty là phân loại lao động theo quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh, với cách phân loại này thì có 2 nhóm lao động gián tiếp và lao động trực tiếp. SV: Trần Công Nhật 4 Lớp: K23 Báo cáo thực tập + Lao động trực tiếp là những người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong Công ty như bộ phận công nhân trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh. + Lao động gián tiếp là bộ phận tham gia một cách gián tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty ví dụ: nhân viên kế toán … 1.
CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN EMIN VIỆT NAM 1. Chế độ tiền lương Tiền lương giữ một vai trò to lớn trong vấn đề kích thích sản xuất, tiền lương phát huy một cách hiệu quả các chức năng của mình thì người trả lương phải hiểu rõ nhu cầu của người lao động, quá trình sản xuất để có thể áp dụng đúng đắn và hợp lý các hình thức trả lương. Trong nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã nghiên cứu xây dựng và nhiều lần sửa đổi chế độ lao động tiền lương thu nhập cho người lao động sao cho phù hợp các điều kiện kinh tế xã hội. Nhà nước đã ban hành các chính sách tiền lương đã giúp cho các doanh nghiệp có thể dựa vào đó để quyết định trả lương hợp lý cho người lao động.
Tuy nhiên, người chủ doanh nghiệp cần phải dựa vào đặc điểm của quá trình lao động và tính chất của sản phẩm đó để lựa chọn hình thức trả lương phù hợp nhất. Do Công ty là Công ty Cổ phần nên việc chi trả lương cho cán bộ, công nhân viên đều thực hiện trên cơ sở chế độ tiền lương, thưởng do nhà nước ban hành, bao gồm: * Lương cơ bản: được trả theo hệ số quy định của nhà nước cộng thêm các khoản phụ cấp. Lương cơ bản do nhà nước quy định phải phù hợp với các đặc trưng sau: - Tương ứng với các trình độ lao động đơn giản nhất. - Cương độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện họat động bình thường.
- Nhu cầu tiêu dùng ở mức tối thiểu nhất. - Tương ứng với giá cả và các tư liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức SV: Trần Công Nhật 5 Lớp: K23 Báo cáo thực tập giá trung bình hiện nay ở nước ta. * Lương khoán: theo định mức và doanh số người lao động đạt được. * Lương theo giờ.
Ngoài ra cán bộ, công nhân viên còn được hưởng một số chế độ: + Khen thưởng theo quý, năm. + Tiền bồi dưỡng khi làm việc vào các ngày lễ, tết. + Hàng năm được tổ chức đi thăm quan, nghỉ mát. + Khen thưởng các cháu đạt học sinh giỏi là con em các bộ, công nhân viên.
Hình thức trả lương Để phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của mình. Công ty áp dụng hai hình thức trả lương đó là: + Trả lương theo thời gian. + Trả lương theo sản phẩm. Việc áp dụng hai hình thức này nhằm mục đích: - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, nâng cao kỹ thuật lao động, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn lao động.
Bảo đảm dân chủ công khai, phân phối kết quả hợp lý giữa các bộ phận lao động, khuyến khích cán bộ công nhân viên, hăng hái hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, đồng thời đảm bảo chế độ chính sách cho người lao động theo quy định hiện hành. Hàng tháng thống kê phân xưởng gửi báo cáo sản lượng sản phẩm của mình lên phòng kế toán để tính lương. CHẾ ĐỘ TRÍCH LẬP, NỘP VÀ SỬ DỤNG CÁC KHOẢN TRÍCH LẬP THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN EMIN VIỆT NAM 1. Quỹ tiền lương: - Là toàn bộ số tiền lương trả cho số CNV của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương.
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp gồm: SV: Trần Công Nhật 6 Lớp: K23 Báo cáo thực tập - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và các khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp khu vực…. - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do những nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép. - Các khoản phụ cấp thường xuyên: phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp công tác lưu động, phụ cấp cho những người làm công tác khoa học- kỹ thuật có tài năng. - Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của Công ty được chia thành 2 loại : tiền lương chính, tiền lương phụ.
+ Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính: gồm tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp. + Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính của họ, thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ lễ tết, ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ. Trong công tác hạch toán kế toán tiền lương chính của công nhân sản xuất được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương phụ của công nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ quy định là 26% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp nhằm giúp đỡ họ về mặt tinh thần và vật chất trong các trường hợp CNV bị ốm đau, thai sản, tai nạn, mất sức lao động… Quỹ BHXH được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả CNV trong kỳ.
Theo chế độ hiện hành, hàng tháng doanh SV: Trần Công Nhật 7 Lớp: K23 Báo cáo thực tập nghiệp tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 26% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 8% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động, cụ thể: - Trợ cấp công nhân viên ốm đau, thai sản. - Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp. - Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động.
- Chi công tác quản lý quỹ BHXH Theo chế độ hiện hành, toàn bộ số trích BHXH được nộp lên cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm để chi trả các trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động. Tại doanh nghiệp hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho CNV bị ốm đau, thai sản…Trên cơ sở các chứng từ hợp lý hợp lệ. Cuối tháng doanh nghiệp, phải thanh quyết toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH. Hàng tháng Công ty nộp đủ 26% tiền BHXH cho ban BHXH của thành phố.
Sau đó những người nghỉ ốm sẽ được hưởng 75% mức lương, nghỉ do thai sản sẽ được hưởng 100% mức lương, trợ cấp tai nạn, kế toán BHXH dựa vào số ngày nghỉ ốm đã được xác nhận của bệnh viện hoặc y tế cơ sở (Số ngày nghỉ từ 3 ngày trở lên thì phải có xác nhận của y tế bệnh viện), dựa vào bảng chấm công nghỉ ốm của các tổ chức gửi lên, dựa vào tỷ lệ % theo quy định của Nhà Nước, và dựa vào tiền lương cấp bậc của từng Cán bộ công nhân viên. Quỹ Bảo Hiểm Y Tế Quỹ BHYT là khoản tiền được tính toán và trích lập theo tỉ lệ quy định là 4,5% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của công ty nhằm phục vụ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho người lao SV: Trần Công Nhật 8 Lớp: K23 Báo cáo thực tập động. Cơ quan Bảo Hiểm sẽ thanh toán về chi phí khám chữa bệnh theo tỉ lệ nhất định mà nhà nước quy định cho những người đã tham gia đóng bảo hiểm. Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ.
Theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp trích quỹ BHXH theo tỷ lệ 4.5% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1.5% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHYT được trích lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên trách để quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế.