Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp vụ kế toán nhận tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nghiệp nhận tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Tây Ninh. Chương 3: Giải pháp, kiến nghị đối với công tác kế toán nghiệp vụ nhận tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Tây Ninh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Kế toán nghiệp vụ nhận tiền gửi tiết kiệm 1.1 Khái niệm kế toán tiền gửi tiết kiệm Theo Điều 3 Luật số 88/2015/QH13 quy định về luật kế toán: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Kế toán tiền gửi tiết kiệm là vị trí nhân viên kế toán thực hiện công việc, nhiệm vụ theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến việc rút tiền gửi nhập quỹ tiền mặt cho các doanh nghiệp, nộp tiền vào tài khoản ngân hàng, thanh toán,… 1.2 Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Theo Điều 5 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thoả thuận với tổ chức tín dụng”. Hay nói một cách khác, TGTK là số tiền gửi mà người dân tích luỹ dần từ một phần thu nhập cá nhân với mục đích sinh lời an toàn hoặc tiêu dùng cho những nhu cầu trong tương lai.3 Phân loại Thông thường, mỗi ngân hàng đều có các loại sản phẩm TGTK khác nhau. Tuy nhiên, đặc trưng về loại TGTK của các NHTM đều có hai hình thức chung đó là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Theo Khoản 2 Điều 6 Thông tư 48/2018/TT-NHNN, các NH có quy định cụ thể về từng hình thức TGTK phù hợp với quy định của Thông tư này và quy định của các pháp luật liên quan, đảm bảo an toàn tài sản cho người gửi tiền và an toàn hoạt động cho các NH.
Quy định về hình thức TGTK phải có tối thiểu các nội dung về phương 2 thức trả lãi, phương pháp tính lãi, kéo dài thời hạn gửi tiền, rút trước hạn TGTK, các trường hợp người gửi tiền phải thông báo trước việc rút trước hạn TGTK. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn cố định. Khi gửi, khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức gửi tiết kiệm theo những thời hạn khác nhau. Tuy nhiên, khách hàng không được phép rút trước thời hạn đã thoả thuận ban đầu với ngân hàng.
Nếu trường hợp KH có nhu cầu muốn rút tiền trước hạn thì KH vẫn có thể tất toán nhưng hưởng lãi không kỳ hạn thay vì lãi suất ấn định ban đầu. Các kỳ hạn thường là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng,…, 12 tháng hoặc trên 1 năm. Tiền gửi không kỳ hạn Là sản phẩm mà NH cung ứng để giúp KH tích luỹ dần những khoản tiền nhỏ để đáp ứng một khoản chi tiêu nào đó trong tương lai mà vẫn được hưởng lãi. Nhưng do tính chất không ổn định của loại tiền gửi này nên lãi suất gửi thường thấp.
Khi lựa chọn hình thức TGTK không kỳ hạn, KH đến gửi tiền có thể gửi vào và rút ra một phần hoặc tất toán theo nhu cầu sử dụng mà không cần phải đợi đến cuối kỳ. Bảng 1-1 So sánh tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không Tiền gửi tiết kiệm có kỳ Đặc điểm kỳ hạn hạn Thấp, được NHNN quyết Cao hơn TGTK không kỳ định theo từng thời kỳ, hạn, được ngân hàng quy Mức lãi suất thường không vượt quá định sẵn. Thường cố định 1%/năm. trong thời gian gửi.
Kỳ hạn gửi Không có kỳ hạn. Theo tháng, theo năm. Tuỳ 3 Kỳ hạn sẽ kết thúc nếu KH vào khách hàng muốn gửi muốn huỷ sản phẩm. trong bao lâu.
Có ba hình thức trả lãi: trả Khách hàng được phép rút lãi trước, trả lãi định kỳ và Phương thức lấy vốn gốc vốn gốc và lãi bất kỳ thời trả lãi sau. và lãi điểm nào. Vốn gốc sẽ được trả khi đáo hạn. Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Giáo trình Kế toán ngân hàng và Thông tư 07/2014/TT-NHNN 1.4 Nhiệm vụ của kế toán Kế toán ngân hàng có nhiều nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo hoạt động tài chính ngân hàng tiến triển theo hướng tuân thủ các quy định và quy trình liên quan, diễn ra một cách hiệu quả.
Một số nhiệm vụ chính của kế toán như: Ghi nhận và phản ánh thông tin: Khi làm việc với khách hàng, nhân viên kế toán có nhiệm vụ ghi chép đầy đủ, phản ánh chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong ngày theo đúng quy định. Việc này giúp đảm bảo lợi ích giữa hai bên, ghi nhận đúng đắn tài sản của khách hàng khi đến mở tài khoản tại ngân hàng. Phân tích và tổng hợp số liệu: Việc sử dụng đúng các phương pháp kế toán để thực hiện việc tổng hợp và phân tích các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh giúp phục vụ cho việc tham mưu và đề xuất những giải pháp hoạt động hiệu quả. Kiểm tra và giám sát quá trình sử dụng vốn: Kế toán ngân hàng là người nắm rõ thu chi tài chính và quá trình lưu thông nguồn vốn của ngân hàng.
Việc kiểm tra và giám sát chặt chẽ góp phần lớn vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ. 4 Tổ chức tốt công tác kế toán và phục vụ khách hàng: Ngoài việc điều hành các hoạt động bên trong ngân hàng như quản lý nguồn vốn và dòng tiền. Kế toán ngân hàng cần phải đáp ứng các nhu cầu của khách hàng khi đến giao dịch tại ngân hàng, phục vụ khách hàng một cách chu đáo, giúp họ hiểu biết những nội dung cơ bản của kỹ thuật nghiệp vụ NH chung và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán nói riêng để góp phần thực hiện chiến lược khách hàng, nâng cao niềm tin và tạo uy tín cho ngân hàng.5 Phƣơng thức tính lãi Đối với TGTK không kỳ hạn, lãi suất sẽ được tính dựa trên số dư mỗi ngày. Lãi được tính cộng dồn hàng ngày và nhập vốn gốc vào ngày cuối tháng.
Do đặc trưng cơ bản của sản phẩm TGTK không kỳ hạn là lãi suất thấp, vì khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền bất kỳ lúc nào. ∑ x Số ngày duy trì số dư thực tế x Lãi suất tính lãi) Số tiền lãi = Cụ thể: Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN quy định các yếu tố tính lãi như sau: Thời hạn tính lãi: được xác định theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư này là 365 ngày. Số dư thực tế: Là số dư đầu ngày tính lãi của số dư tiền gửi mà bên nhận tiền gửi còn phải trả cho bên gửi tiền được sử dụng để tính lãi theo thoả thuận và quy định của pháp luật về nhận tiền gửi. Số ngày duy trì số dư thực tế: Là số ngày mà số dư thực tế đầu mỗi ngày không thay đổi.
Lãi suất tính lãi: Được tính theo tỷ lệ %/năm theo quy định khoản 1 Điều 4 Thông tư này. 5 Đối với TGTK có kỳ hạn, phương thức tính lãi sẽ tương tự như công thức tính TGTK không kỳ hạn. Tiền lãi được tính dựa trên số dư ban đầu của KH lúc mở gửi tiền và tiền lãi sẽ được thanh toán hàng tháng hoặc đến ngày đáo hạn tuỳ vào sự lựa chọn của khách hàng. Vì đây là sản phẩm TGTK có sự ổn định nên các ngân hàng áp dụng lãi suất khá cao.
Tuy nhiên, khách hàng chỉ được rút vốn gốc khi đến ngày đáo hạn, nếu rút trước thời hạn đã được thoả thuận ban đầu thì khách hàng sẽ nhận mức lãi suất rất thấp, thường sẽ trả về mức lãi suất cho TGTK không kỳ hạn.6 Chứng từ kế toán liên quan Sổ sách kế toán: Sổ nhật ký chung, các báo cáo chi tiết Các loại thẻ, sổ tiết kiệm Giấy lĩnh tiền, giấy gửi tiền Phiếu thu, phiếu chi Bảng kê tính lãi, phiếu chuyển khoản 1.2 Tài khoản kế toán Tài khoản kế toán sử dụng cho hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền mặt tại đơn vị, Tiền gửi của khách hàng, Lãi phải trả cho tiền gửi, Trả lãi tiền gửi. Hệ thống tài khoản kế toán theo Quyết định số 05/VBHN-NHNN về việc ban hành hệ thống tài khoản kế toán các TCTD: Tài khoản 1011 – Tiền mặt tại đơn vị Nội dung: Tài khoản này dùng để hạch toán số tiền mặt tại quỹ nghiệp vụ của các TCTD. Kết cấu: Bên Nợ ghi: Số tiền mặt thu vào quỹ nghiệp vụ. Bên Có ghi: Số tiền mặt chi ra từ quỹ nghiệp vụ.
6 Số dư Nợ: Phản ánh số tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ của TCTD. Hạch toán chi tiết: Mở 02 tài khoản chi tiết: Tiền mặt đã kiểm đếm và Tiền mặt thu theo túi niêm phong. Tại bộ phận kế toán, mở sổ nhật ký quỹ (số tờ rời) ghi đầy đủ các khoản thu, chi trong ngày để đối chiếu với thủ quỹ, dùng làm căn cứ lập nhật ký chứng từ và hạch toán tổng hợp trong ngày. Ngoài nhật ký quỹ, kế toán mở sổ kế toán chi tiết để ghi số tổng cộng thu, chi và tồn quỹ cuối ngày (mỗi ngày một dòng).
Sổ này dùng làm cơ sở cho việc lập báo cáo kế toán hàng tháng. Tài khoản 423 – Tiền gửi tiết kiệm bằng VND Nội dung: Tài khoản phản ánh số tiền đồng Việt Nam của khách hàng gửi vào Ngân hàng theo các thể thức TGTK. Kết cấu: Bên Có ghi: Số tiền khách hàng gửi vào. Bên Nợ ghi: Số tiền khách hàng lấy ra.
Số dư Có: Số tiền khách hàng hiện đang gửi tại ngân hàng. Tài khoản 423 có các tài khoản cấp III sau: TK 4231 – Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn TK 4232 – Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn TK 4238 – Tiền gửi tiết kiệm khác Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo từng khách hàng gửi tiền (Sổ tiết kiệm). 7 Riêng tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn : mở tài khoản chi tiết theo từng món tiền gửi (hợp đồng…) của khách hàng.