PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xu thế hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu đã mang lại cho các doanh nghiệp (DN) nhiều cơ hội để phát triển nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều rủi ro, thách thức. Để tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh trong bối cảnh đó, mọi bộ phận trong DN phải cải tiến, thay đổi cho phù hợp, trong đó kế toán quản trị (KTQT) được xem là một công cụ quản lý không thể thiếu vì tính hữu dụng rất cao đối với quản trị, điều hành DN cũng cần có những thay đổi cho phù hợp hơn. Do đó, KTQT trong DN cần được tổ chức khoa học, hợp lý hơn vì công việc tổ chức là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công tác KTQT.
Tuy nhiên, đến nay tổ chức KTQT vẫn chưa được quan tâm đúng mức từ phía các bên liên quan. Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về KTQT như công trình của Drury (2001), Joshi (2001), Horngren và cộng sự (2004, 2012), Abdel-Kader và Luther (2006, 2008), … Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu vận dụng các phương pháp KTQT, rất ít công trình nghiên cứu đầy đủ về tổ chức KTQT. Ở Việt Nam, KTQT được đưa vào giảng dạy tại các trường đại học từ đầu những năm 1990, nhưng tập trung chủ yếu vào nội dung và phương pháp kỹ thuật của KTQT mà chưa đề cập nhiều đến góc độ tổ chức. Luật kế toán Việt Nam (2003, 2015) đã đề cập đến KTQT ở các đơn vị, song chỉ dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quy định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát, do đó việc tổ chức KTQT ở các DN còn mờ nhạt.
Năm 2006, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 53 hướng dẫn nguyên tắc, nội dung, cách thức vận dụng KTQT ở DN, trong đó có đề cập đến tổ chức KTQT trong DN. Tuy nhiên, những hướng dẫn đó chỉ mang tính chất cơ sở và tập trung giải quyết nội dung, phương pháp KTQT dẫn đến các DN gặp khó khăn trong việc tổ chức, triển khai thiết kế hệ thống, xác định nội dung cụ thể, bố trí nhân sự, thiết kế kỹ thuật và vận dụng KTQT. Thời gian gần đây ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tổ chức KTQT cả về mặt lý luận và thực tiễn, ở nhiều loại hình DN, theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau như tổ chức KTQT theo khâu công việc, theo chức năng thông tin, theo phần hành hay theo chức năng quản lý của nhà quản trị. Tuy nhiên, còn nhiều những tranh luận, những trao đổi về các nội dung của tổ chức KTQT.
Do vậy cần có sự nghiên cứu tiếp tục để tìm ra cách thức tổ chức KTQT trong DN đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi mới của sự phát triển kinh tế. luan an 2 Cơ khí đóng vai trò là ngành công nghiệp “xương sống” của nền sản xuất, cung cấp các thiết bị, công cụ, … cho tất cả các ngành kinh tế và đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người dân, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Cơ khí được coi là trái tim của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam và đang có tốc độ phát triển nhanh chóng, giúp đảm bảo sản xuất các công cụ, phương tiện và máy móc nhằm chuyển đổi lao động thủ công thành lao động máy móc để nâng cao năng suất lao động, tạo điều kiện tốt hơn cho lao động, sinh hoạt và giúp con người mở rộng tầm nhìn, chinh phục được thử thách và thiên nhiên. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, từ 2015, ngành công nghiệp chế biến - chế tạo duy trì đóng góp vào GDP ở mức từ 21 – 24%, trở thành ngành kinh tế đóng góp nhiều nhất vào GDP, trong đó, phân ngành cơ khí có tỷ trọng doanh thu lớn nhất, duy trì ở mức từ 16 – 18.5% và tạo việc làm cho hơn 1.2 triệu lao động, chiếm hơn 16% tổng số lao động của ngành chế biến – chế tạo.
Vì vậy, cơ khí là ngành công nghiệp chủ chốt không chỉ về giá trị tổng sản phẩm mà cả số lượng nhân lực tham gia sản xuất trong toàn bộ ngành công nghiệp. Với nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết đã mở ra thị trường xuất khẩu rộng lớn cho các doanh nghiệp cơ khí (DNCK) của Việt Nam cũng như giúp Việt Nam đón nhận làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng từ các dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giúp hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) trong nước ngày càng mở rộng, vai trò của sản xuất cơ khí ngày càng nổi trội. Đây là cơ hội để các DNCK Việt Nam (DNCKVN) nâng cao năng lực sản xuất, bứt phá, mở rộng quy mô. Tuy nhiên, do phải tuân thủ các cam kết quốc tế trong các FTA đã ký kết nên các DNCKVN phải cạnh tranh quyết liệt với các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực mạnh cũng như dư địa để can thiệp bằng chính sách vào phát triển ngành cơ khí không còn nhiều.
Trong khi đó, năng lực của các DNCKVN còn nhiều hạn chế. Để vượt qua thách thức, đón được cơ hội trong bối cảnh đó, thông tin KTQT phục vụ quản lý, điều hành DN càng trở nên quan trọng, tổ chức KTQT tại các DNCKVN cần có những điều chỉnh phù hợp. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế tổ chức KTQT tại các DNCKVN vẫn còn những hạn chế nhất định do nhận thức của nhà quản trị cũng như nhân sự thực hiện KTQT về vai trò của tổ chức KTQT còn chưa đầy đủ, đó là: định mức chi phí (ĐMCP) chưa được xây dựng theo quy trình chặt chẽ; căn cứ lập dự toán còn thiếu tính tin cậy; việc thu nhận thông tin KTQT thực hiện chưa kịp thời, đầy đủ; việc nhận diện và phân loại chi phí chưa có nhiều tác dụng cho việc ra quyết định; việc phản ánh chi phí sản xuất (CPSX) cho các đối tượng chịu chi phí còn thiếu chính xác; nội luan an 3 dung phân tích thông tin KTQT còn sơ sài; tổ chức cung cấp thông tin KTQT chưa tạo thuận lợi cho người sử dụng thông tin; tổ chức nhân sự và phương tiện thực hiện KTQT chưa đáp ứng tốt các đặc thù trong công việc KTQT tại các DNCKVN. Mặt khác, cho đến nay chưa có nghiên cứu về tổ chức KTQT tại các DNCKVN.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài “Tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam” làm đề tài luận án của mình với mong muốn hoàn thiện tổ chức KTQT trong các DNCKVN để KTQT thực sự là một kênh thông tin hữu ích cho nhà quản trị trong việc điều hành, quản lý DN, giúp DN hoạt động có hiệu quả hơn. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Các nghiên cứu về nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất KTQT xuất hiện từ đầu thế kỷ 19 do nhu cầu thông tin quản trị DN. Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, KTQT ngày càng phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của nhà quản trị. Từ khi ra đời, KTQT đã được rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu dưới cả 2 góc độ lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, qua tổng quan các tài liệu nước ngoài cho thấy có rất ít tác giả nghiên cứu đầy đủ về tổ chức KTQT, hầu hết các tác giả nghiên cứu từng nội dung của tổ chức KTQT như nhân sự thực hiện KTQT; vận dụng các phương pháp KTQT; ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào thực hiện KTQT. Trong đó, các nghiên cứu tập trung nhiều nhất vào vận dụng các phương pháp KTQT và nội dung thiên về kỹ thuật thực hiện hơn là “tổ chức”. Các nghiên cứu dưới góc độ lý luận liên quan đến tổ chức KTQT trên thế giới, có thể kể đến những công trình sau: Introduction to Management Accounting là một cuốn sách về KTQT của Horngren và cộng sự được tái bản nhiều lần (1995, 2004, 2007, 2010, 2012, …). Tập thể tác giả đã trình bày các nội dung và phương pháp KTQT liên quan đến chi phí hành vi, mối quan hệ CVP, hệ thống quản trị chi phí, … Nội dung về nhân sự thực hiện KTQT được đề cập dưới góc độ vai trò, nhiệm vụ và đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên dung lượng rất ít trong tổng thể nghiên cứu.
Các công trình của Drury (2001), Weetman (2003) đều tập trung làm rõ sự khác biệt giữa KTQT và KTTC đồng thời xác định các nội dung của KTQT trong DN như phân loại chi phí, tập hợp và phân bổ chi phí, xác định chi phí theo công việc, … phục vụ ra quyết định ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, nội hàm “tổ chức” KTQT được đề cập rất ít trong nghiên cứu. luan an 4 Công trình của Atkinson và cộng sự (2011) cũng là một tài liệu về KTQT được xuất bản nhiều lần. Các tác giả tập trung vào các phương pháp KTQT như phương pháp ABC, thẻ điểm cân bằng, phân tích thông tin hỗ trợ ra quyết định, ….
Nhân sự thực hiện KTQT được các tác giả đề cập ở khía cạnh cách thức để thúc đẩy hiệu quả làm việc. Tuy nhiên, góc độ “tổ chức” gần như không được nghiên cứu. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tổ chức KTQT trên thế giới có thể kể đến những công trình như: Nghiên cứu của Chenhall và Langfield- Smith (1998) đã tìm hiểu về mức độ vận dụng 42 kỹ thuật KTQT tại các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) của Úc. Các tác giả đã hệ thống các kỹ thuật KTQT thành 2 nhóm là các kỹ thuật KTQT truyền thống và các kỹ thuật KTQT hiện đại phục vụ 3 chức năng chính là đánh giá thành quả, lập kế hoạch và quản trị chiến lược.
Kết quả chỉ ra các kỹ thuật KTQT truyền thống như điểm hòa vốn, dự toán, phân tích chênh lệch ngân sách, giá thành sản phẩm (GTSP), … được áp dụng nhiều hơn so với các kỹ thuật KTQT hiện đại. Tuy nhiên, những kỹ thuật KTQT mới như chi phí dựa trên hoạt động ABC bắt đầu được ứng dụng rộng rãi hơn. Ngoài ra, tại những DNSX có quy mô lớn nhấn mạnh đến những thông tin phi tài chính và tập trung nhiều hơn vào quản trị chiến lược. Nhiều tác giả đã sử dụng cách tiếp cận này để điều tra mức độ áp dụng KTQT tại các DNSX.
Joshi (2001) ngoài 42 kỹ thuật trên đã thêm kỹ thuật chi phí tiêu chuẩn, dự toán từ cấp số không và dòng chi phí ngược vào nghiên cứu 60 DNSX có quy mô vừa và lớn ở Ấn Độ.