CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Bản chất của kế toán quản trị Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải nắm rõ sản xuất, kinh doanh mặt hàng nào, sản phẩm nào có lãi, mặt hàng nào, sản phẩm nào sẽ bị lỗ bằng cách tính toán, phân tích, tổng hợp từng yếu tố chi phí để so sánh với doanh thu của từng nhóm sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh. Điều này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải được cung cấp thông tin đầy đủ từ kế toán quản trị. Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động. Cho đến nay, khi bàn về khái niệm của kế toán quản trị có nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn như: Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì Kế toán quản trị “ là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức.
Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức ”. Theo quan điểm của Giáo trình Kế toán quản trị - Trường Đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2002: "Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi Luan van 9 việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này". Theo Điều 4 Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán". Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể, giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.2 Bản chất kế toán quản trị chi phí Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh trong nội bộ DN và chịu sự chi phối của nhà quản trị, mọi quyết định trong DN đều liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, đến chi phí của doanh nghiệp trong việc hình thành giá trị.
Quá trình này thường gắn liền với lợi ích mong muốn của doanh nghiệp. Ở đây chi phí được hiểu là giá trị của mọi khoản khấu hao về nhân tài, vật lực nhằm thu được các loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Chi phí có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau để cung cấp thông tin phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị, trong đó việc xem xét chi phí trong mối quan hệ với khối lượng, hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận có thể được xem là đối tượng chủ yếu của KTQT. Như vậy, các loại chi phí đặt trong mối quan hệ khác nhau và quan hệ với lợi ích mang lại cả trong quá khứ hiện tại và tương lai là đối tượng cụ thể của kế toán quản trị chi phí.
Không những thế vì KTQT chi phí quan tâm đến khía cạnh của quản trị là chủ yếu, do đó quá Luan van 10 trình kiểm soát, kiểm tra điều chỉnh trong quản trị cần thiết phải có cả thông tin về tài chính cũng như phi tài chính nên đây cũng là một đối tượng cụ thể của KTQT chi phí. Khởi điểm của KTQT là kế toán chi phí. Kế toán chi phí bao gồm việc tập hợp phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của KTTC và KTQT nhằm cung cấp thông tin kế toán mà chủ yếu là thông tin về chi phí cho các nhà quản trị. Mặc dù đều nhằm mục đích thông tin cho các nhà quản trị nhưng có sự khác nhau về mục đích và phạm vi giữa hai loại kế toán này: với KTTC, kế toán chi phí là cơ sở xác định chi phí và thu thập thể hiện trên báo cáo lãi lỗ kinh doanh trong kỳ kế toán, với KTQT, kế toán chi phí được sử dụng để tính giá thành, lập dự toán chi phí …làm cơ sở để phân tích chi phí và ra quyết định.
KTQT chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý. KTQT chi phí trả lời câu hỏi chi phí sẽ là bao nhiêu, thay đổi như thế nào khi có sự thay đổi về mặt sản lượng sản xuất, ai phải chịu trách nhiệm giải thích về những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh. Điều này cho thấy KTQT chi phí mang nặng tính bản chất của kế toán quản trị nhiều hơn là kế toán chi phí thuần tuý. Khi có sự biến động chi phí, trách nhiệm giải thích về những thay đổi bất lợi thuộc bộ phận nào KTQT chi phí phải theo dõi và báo cáo rõ ràng phục vụ cho quá trình kiểm soát, điều chỉnh của nhà quản lý.
Như vậy, KTQT chi phí không nhận thức chi phí theo quan điểm của KTTC mà nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu Luan van 11 thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. Từ đó có thể rút ra bản chất của KTQT chi phí như sau: - KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép, hệ thống hoá trong số kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương án kinh doanh. - KTQT chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của DN. Những thông tin đó có ý nghĩa với những bộ phận, những người điều hành, quản lý doanh nghiệp.
- KTQT chi phí là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một bộ phận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý.3 Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý Để có thể điều hành hoạt động một doanh nghiệp thì các nhà quản trị phải thông qua các chức năng cơ bản là: hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định. KTQT chi phí sử dụng các phương pháp riêng để thiết kế, tổng hợp, phân tích và có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về chi phí phục vụ cho các chức năng quản trị. Cụ thể, mối liên hệ giữa mỗi chức năng với kế toán quản trị chi phí được thể hiện như sau: a. Chức năng lập kế hoạch Trong việc lập kế hoạch, người quản lý vạch ra những việc phải làm để đưa hoạt động của tổ chức doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định như mục tiêu về lợi nhuận, về sự tăng trưởng, nâng cao uy tín của doanh nghiệp…Các kế hoạch được lập có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn.
Trong chức năng này, KTQT chi phí cung cấp những thông tin để ra các quyết định và kế hoạch thông qua việc lượng hóa các mục tiêu của quản lý dưới dạng các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Chức năng tổ chức Để thực hiện tốt và đạt hiệu quả cao nhất chức năng này, nhà quản trị phải liên kết giữa các bộ phận, cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với nhau để có thể thực hiện các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạch định. KTQT chi phí phải cung cấp thông tin hàng ngày về tình hình hoạt động của tổ chức, về tài sản, chi phí, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giá trị để phục vụ đắc lực cho nhà quản trị điều hành tốt quá trình hoạt động SXKD của tổ chức. Chức năng kiểm soát Sau khi đã triển khai thực hiện các kế hoạch, công việc kiểm tra, kiểm soát nhằm điều chỉnh và đánh giá có vị trí rất quan trọng.
Nhà quản trị phải dùng hệ thống các phương pháp quản lý cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận của cả tổ chức đều đi theo kế hoạch đã được vạch ra. Để cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra của nhà quản lý, KTQT chi phí sẽ thiết kế các báo cáo có dạng so sánh được, so sánh giữa thực tế với kế hoạch đã được lập, qua đó phát hiện những khâu, những chỗ chưa đạt được của quá trình thực hiện các kế hoạch; từ đó có những điều chỉnh thích hợp. Chức năng ra quyết định Ra quyết định tự bản thân nó không phải là một chức năng riêng biệt. Thực ra nó là một bộ phận không thể tách rời của các chức năng mà chúng ta vừa nghiên cứu ở trên.
Rõ ràng là chức năng ra quyết định đan xen trong các chức năng khác. Khi nhà quản trị ra một quyết định về kế hoạch, về tổ chức hay kiểm tra thì cũng có nghĩa là anh ta đã thực hiện chức năng ra quyết định. Hay nói một cách khác thì thông qua chức năng ra quyết định, nhà quản trị thực hiện các chức năng còn lại của mình. Nhưng để ra được một quyết định thì cần phải xem xét, cân nhắc, lựa chọn từ các phương án khác nhau để có được phương án tối ưu với hiệu quả Luan van 13 cao nhất và rủi ro thấp nhất.
KTQT chi phí giúp các nhà quản trị nhận diện và phân biệt được những thông tin thích hợp và không thích hợp, tập trung chủ yếu vào vấn đề chính cần giải quyết.