phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục có kết cấu gồm 3 phần: Phần I: Lý luận chung về kế toán doanh thu, chỉ phí và kết quả kinh doanh trong các Công ty kinh doanh chứng khoán Phân 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chỉ phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cỗ phần chứng khoán đầu tư tài chính Việt Nam Phân 3: Các đề xuất và giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chỉ phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cỗ phần chứng khoán đầu tư tài chính Việt Nam PHAN 1: LY LUAN CHUNG VE KE TOAN DOANH THU, CHI PHi VAKET QUA KINH DOANH TRONG CAC CONG TY KINH DOANH CHUNG KHOAN 1.Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chỉ phí và kết quả kinh doanh trong các công ty kinh doanh chứng khoán 1. Các khái niệm cơ bản a) Khái niệm về doanh thu Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp. Trong các Công ty kinh doanh chứng khoán doanh thu là các khoản tiền thu được từ dịch vụ cung cấp cho khách hàng như môi giới, tự doanh, DVTC, lưu ký, nhận ủy thác, vốn lưu động, góp vốn đầu tư. + Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực KTTC Mỹ (FASB) và Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB): “ Doanh thu là dòng vào hay sự gia tăng của tài sản hoặc giảm nợ phải trả (hoặc kết hợp ca hai) phát sinh trong kỳ từ phân phối hoặc sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hay các hoạt động khác cấu thành hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp”.
+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14- Doanh thu và thu nhập khác): “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp đã thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. + Theo thông tư 210/2014/TT-BTC: Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Có nhiều khái niệm khác nhau về doanh thu, song bản chất của doanh thu là khoản thu từ hoạt động kinh doanh và là cơ sở tạo ra kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
b) Khái niệm về chỉ phí Chi phi là yếu tố cần thiết trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí là biéu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính trong một thời kì nhất định. Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB): “ Chỉ phí là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán đưới hình thức xuất đi hay giảm giá trị tài sản hay làm phát sinh các khoản nợ, kết quả là làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu mà không do việc phân phối nguồn vốn cho các bên chủ sở hữu”. Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01): Chi phí được ghi nhận là khoản làm giảm vốn chủ sở hữu và chúng thường phát sinh do việc chỉ tiêu hoặc sử dung tai san nhằm tạo ra thu nhập cho DN.
Chi phí hoạt động kinh doanh tại các DN, bao gồm các chỉ phí kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường và các chi phí khác. Từ các khái niệm cho thấy, chi phí là những phí tổn về nguồn lực, tài sản cụ thể và dịch vụ sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí là sự giảm đi các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ kế toán dưới các hình thức khác nhau. Sự giảm lợi ích này thực chất là làm giảm tạm thời nguồn vốn chủ sở hữu nhưng với mong muốn sẽ thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai.
Khái niệm kết quả kinh doanh. Hiện nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về kết quả kinh doanh và thường gắn với các loại hình kế toán. Loại hình kế toán “” xác định kết quả hoạt động trên cơ sở biến động tài sản thuần. Tuy nhiên, việc trình bày kết quả hoạt động theo mô hình kế toán này hầu như không phải là vấn đề được kế toán quan tâm.
Loại hình kế toán “đông” trên cơ sở giao dịch để đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp, việc trình bày kết quả hoạt động theo khuôn mẫu nhất định là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Theo quan điểm của kế toán “đông” truyền thống, việc xác định kết quả hoạt động theo nguyên tắc hoạt động. Các yếu tố tạo nên kết quả bao gồm các khoản doanh thu, thu nhập khác và chỉ phí đã thực hiện. Nói một cách tông quát, kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng về các hoạt động của DN trong một thời kỳ nhất định, là biểu hiện bằng tiền phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chỉ phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện.
Nếu doanh thu lớn hơn chỉ phí thì DN lãi, ngược lại doanh thu nhỏ hơn chỉ phí thì DN lỗ. Đối với mỗi DN hoạt động ở những lĩnh vực khác nhau thì hoạt động chính tạo ra lợi nhuận cũng khác nhau. Kết quả hoạt động chính của DN tạo ra trong kỳ được gọi là kết quả hoạt động kinh doanh thông thường Theo IAS 08: “Kết quả từ hoạt động thông thường là kết quả những hoạt động được doanh nghiệp tiến hành với tư cách là một phần hoạt động kinh doanh của mình và những hoạt động liên quan mà doanh nghiệp tham gia”. Như vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong kỳ là phần lợi ích mà DN nhận được hoặc tổn thất DN phải gánh chịu trong quá trình hoạt động kinh doanh được xác định bằng chênh lệch giữa doanh thu và chỉ phí tương ứng của DN trong kỳ đó.
Đặc điểm doanh thu, chỉ phí và kết quả kinh doanh trong các Công ty kinh doanh chứng khoán 1. Dac diém doanh thu trong các Công ty kinh doanh chứng khoán Nguyên tắc ghi nhận doanh thu, thu nhập của Công ty chứng khoán Doanh thu, thu nhập là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của CTCK. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu được tiền. Thu nhập được xác định trên cơ sở khoản chênh lệch tăng (Lãi bán) giữa giá bán và giá vốn các tài sản tài chính FVTPL bán ra hoặc là khoản chênh lệch đánh giá lại các TSTC FVTPL cuối kỳ kế toán phù hợp với các quy định của Chuẩn mực kế toán các công cụ tài chính.
Doanh thu địch vụ cung cấp cho khách hàng phải phù hợp với các nghiệp vụ kinh doanh quy định trong Giấy phép thành lập và hoạt động của CTCK. Doanh thu dịch vụ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện ghi nhận doanh thu dịch vụ quy định tại Chuẩn mực Doanh thu. Phân loại doanh thu Trong các Công ty kinh doanh chứng khoán, doanh thu bao gồm: Doanh thu hoạt động; Doanh thu hoạt động tài chính; Thu nhập khác. Doanh thu hoạt động: Đây là doanh thu hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán.
Bao gồm: Lãi bán các tài sản tài chính tự doanh FVTPL; Chênh lệch tăng do đánh giá lại các tài sản tài chính tự doanh FVTPL; Doanh thu cung cấp các dịch vụ theo các nghiệp vụ kinh doanh hoạt động kinh doanh chứng khoán theo Giấy phép thành lập và hoạt động của CTCK; Doanh thu khác; Doanh thu hoạt động tài chính: Là các khoản thu từ hoạt động về vốn và chênh lệch tỷ giá hối đoái. Bao gồm: Chênh lệch lãi tỷ giá hối đoái đã thực hiện, chênh lệch lãi tỷ giá hối đoái đánh giá lại chưa thực hiện, doanh thu cỗ tức, lợi nhuận được chia phát sinh từ các khoản đầu tư vào Công ty con, công ty liên doanh, liên kết của CTCK, doanh thu tài chính khác. Thu nhập khác: Bao gồm các khoản thu nhập ngoài hoạt động kinh doanh, đầu tư của CTCK. Bao gồm: Thu nhượng bán, thanh lý TSCĐ; Thu tiền được phạt do khách hàng hoặc các tổ chức cung cấp dịch vụ cho hoạt động kinh doanh của CTCK vi phạm hợp đồng hoặc các trường hợp phải đền bù khác theo quy định của pháp luật thành lập và quản lý CTCK; Các khoản thuế được Ngân sách Nhà nước hoàn lại; Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ; Thu bồi thường về ton that tài sản của CTCK; Các khoản thu nhập khác ngoài các khoản trên.
Đặc điểm chỉ phí trong các Công ty kinh doanh chứng khoán Nguyên tắc hach toán chỉ phí Các khoản chi phải đảm bảo đúng nguyên tắc, hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích, theo đúng quy chế và quy định của pháp luật. Kế toán cần phải tuân thủ các quy định về nội dung và mức chỉ phí hoạt động CTCK, CTCK không được tự động chi các khoản ngoài quy định của pháp luật và Ban Giám đốc CTCK quyết định theo Điều lệ công ty đã thông qua Nghị quyết Đại hội thành viên, Đại hội đồng cô đông. Phân loại chỉ phí Trong các Công ty kinh doanh chứng khoán, chỉ phí bao gồm: Lỗ và chỉ phí giao dịch mua các tài sản tài chính, hoạt động tự doanh: Là các khoản lỗ do bán các tài sản tài chính FVTPL, chỉ phí giao dịch mua các tài sản tài chính FVTPL, chênh lệch giảm do đánh giá lại các tài sản tài chính FVTPL của CTCK và các khoản lỗ, tốn thất về các tài sản tài chính thuộc Danh mục đầu tư TSTC của CTCK, gồm: FVTPL, HTM, Cac tai san cho vay, AFS và chi phí hoạt động tự doanh.