Chương 1: giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH sản xuất và kinh doanh thương mại Tường Hường Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, kiến nghị và kết luận 9 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 2. Kế toán doanh thu và thu nhập trong các doanh nghiệp 2. Khái niệm và phân loại doanh thu theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam: “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu ”. Doanh thu được phát sinh từ các giao dịch, sự kiện được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua và bên sử dụng tài sản.
Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Doanh thu được phân loại theo hai tiêu chí: Phân loại dựa trên đặc điểm hàng hóa – dịch vụ cung ứng; phân loại theo vai trò và đặc điểm từng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh thu của các doanh nghiệp bao gồm doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, doanh thu hoạt động tài chính và doanh thu bất thường. Liên quan đến doanh thu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có các chỉ tiêu sau đây: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đây là chỉ tiêu gộp của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu nội bộ khi thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
11 Các khoản giảm trừ doanh thu: + Chiết khấu thương mai: Là khoản dịch vụ bán hạ giá niêm yết cho khách hàng mua với số lượng lớn.; + Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do những hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc thị hiếu. + Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu bán hàng, thành phẩm và cung cấp dịch vụ đã trừ các khoản giảm trừ ( chiết khấu thương mai, giảm giá hàng bán…) trong kỳ báo cáo, làm căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu hoạt động tài chính: Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu hoạt động tài chính thuần phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Nguyên tắc kế toán doanh thu Nhiệm vụ cơ bản của hạch toán kế toán nói chung là cung cấp thông tin về kinh tế cho những người ra quyết định. Do đó, điều quan trọng sống còn là các thông tin đưa ra trong các báo cáo kế toán, tài chính phải có độ tin cậy cao và rõ ràng. Báo cáo tài chính tại mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia có những điểm khác biệt do sự khác nhau về quy định trong chính sách kế toán, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, trình độ kế toán. nhưng việc lập báo cáo tài chính phải dựa trên những nguyên tắc chung được chấp nhận nhằm đạt được tính nhất quán trong các nguyên tắc kế toán hiện đang được áp dụng trong các tổ chức, đơn vị khác nhau.
Theo chuẩn mực kế toán số 14, các nguyên tắc chung được thừa nhận được xem như các quy luật được thừa nhận trong công tác kế toán, định hướng cho việc phản ánh và trình bày các nội dung kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Dựa trên những nguyên tắc chung chi phối toàn bộ quá trình 12 lập báo cáo tài chính, kế toán doanh thu được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc sau: Nguyên tắc doanh thu thực hiện: Doanh thu được ghi nhận trong kỳ mà nó thực hiện khi quyền sở hữu hàng hóa bán ra được chuyển giao và khi các dịch vụ được thực hiện chuyển giao. Theo đó, khái niệm về doanh thu bán hàng khác với tiền hàng thu được trong kỳ. Doanh thu có thể được ghi nhận trước, trong hoặc sau kỳ mà đơn vị thu được tiền hàng.
Dựa trên mối quan hệ giữa cách thức ghi nhận doanh thu và thời điểm thu tiền hàng, doanh thu được chia thành ba loại: doanh thu bằng tiền ngay, doanh thu chưa thu tiền và doanh thu nhận trước. Áp dụng nguyên tắc này, việc ghi nhận doanh thu tuân thủ theo quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng như chuẩn mựa kế toán quốc tế. Doanh thu chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện nhằm đảm bảo rằng hầu hết rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm đã được chuyển giao và giao dịch thực sự diễn ra với chi phí xác định. Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc này yêu cầu việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Tất cả các chi phí phải gánh chịu trong việc tạo ra doanh thu, bất kể là chi phí xuất hiện ở kỳ nào, nó phải phù hợp với kỳ mà trong đó doanh thu được ghi nhận. Khi đó, chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó. Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong điều kiện không chắc chắn.
Nguyên tắc thận trọng chủ 13 yếu đòi hỏi doanh nghiệp phải trích lập các khoản dự phòng đối với tài sản, cũng như công nợ tại thời điểm đánh giá nhưng không được trích lập quá lớn. Trong kế toán doanh thu, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế. Tức là, một điều kiện không thể thiếu đảm bảo doanh thu được ghi nhận là doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Ngoài bằng chứng về việc chuyển giao quyền sở hữu về sản phẩm từ doanh nghiệp đến khách hàng, doanh nghiệp đồng thời phải nhận được cam kết thanh toán cho việc cung cấp sản phẩm, có thể tại thời điểm hiện tại hoặc trong tương lai.
Không đánh giá cao hơn giá trị của các khoản thu nhập. Áp dụng nguyên tắc này yêu cầu doanh nghiệp phải tách biệt các loại doanh thu với bản chất khác nhau cùng xuất hiện trong một giao dịch kinh tế. Ngoài ra, kế toán doanh thu đồng thời phải tuân thủ các nguyên tắc chung cho việc phản ánh và trình bày báo cáo tài chính, có thể kể đến như: Nguyên tắc cơ sở dồn tích: yêu cầu nghiệp vụ kinh tế tài chính nói chung và liên quan đến doanh thu nói riêng phải được ghi sổ vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, chi tiền hoặc tương đương tiền. Nguyên tắc thước đo tiền tệ: yêu cầu đồng nhất sử dụng đơn vị tiền tệ trong tính toán và ghi chép các nghiệp vụ phát sinh.
Doanh thu của các giao dịch khác nhau có thể mang lại lợi ích kinh tế dưới các hình thái vật chất khác nhau, nhưng cần phải được quy đổi theo đơn vị tiền tệ hiện doanh nghiệp đang sử dụng. Mọi khoản chênh lệch phát sinh phải được theo dõi dựa trên trị giá gốc và phản ánh vào kết quả hoạt động tài chính. Điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc phải thu. Doanh thu phải sinh ra từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa 14 doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản.
Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản giảm trừ doanh thu như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch xác định doanh thu được áp dụng cho từng giao dịch. Các tiêu chuẩn nhận biết giao dịch cần áp dụng cho từng bộ phận của một giao dịch đơn lẻ để phản ánh bản chất của giao dịch đó. Ngoài ra, tiêu chuẩn nhận biết giao dịch còn áp dụng cho 2 hay nhiều giao dịch đồng thời có quan hệ thương mại với nhau.
Khi đó, phải xem xét các giao dịch trong mối quan hệ tổng thể để xác định doanh thu của giao dịch. Dựa trên những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, áp dụng trong nguyên tắc kế toán doanh thu, chuẩn mực kế toán Việt Nam về doanh thu và thu nhập – VAS 14 đưa ra những hướng dẫn trong việc ghi nhận doanh thu cho doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia. Theo đó: Doanh thu bán hàng, được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện: Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu sản phẩm của người mua. Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp.
Hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro gắn liền với thời điểm chuyển giao lợi ích của quyền sở hữu hợp pháp hoặc kiểm soát hàng hóa của người mua. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố không chắc chắn thì thì chỉ được ghi nhận doanh thu khi các yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong. Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh 15 thu. Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu.