phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc cấu thành gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Ngân hàng phát triển Lào Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Ngân hàng phát triển Lào 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thƣơng mại thƣờng chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lƣợngcác ngânhàng.
Tại Việt Nam theo luật các tổ chức tín dụng 2010: “Ngân hàng thƣơng là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật”. Đa số các nhà kinh tế học đều cho rằng ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán đồng thời, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối 9 đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Khái niệm về NHTM đang có sự thay đổi vì sự pha trộn của các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các trung gian tài chính khác. Các NHTM thực hiện các hoạt động: Huy động vốn; hoạt động tín dụng; hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác nhƣ: Hoạt động góp vốn đầu tƣ, tham gia thị trƣờng tiền tệ, hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh dịch vụ chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm… 1. Đặc điểm của các ngân hàng thương mại NHTM giống nhƣ các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận nhƣng là tổ chức đặc biệt vì đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc trƣng chủ yếu đƣợc thực hiện chủ yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh: Nguồn vốn phần lớn là tiền gửi của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế.
Đặc điểm nổi bật của ngân hàng thƣơng mại là không sử dụng nguồn vốn sở hữu vào trong các hoạt động kinh doanh của mình nhƣ cho vay, mua bán chứng khoán. Hơn nữa nguồn vốn sở hữu của NHTM chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM. Trong khi đó các loại hình kinh tế khác lại sử dụng chủ yếu nguồn vồn sở hữu vào các hoạt động kinh doanh. Sự khác biệt của NHTM với các định chế tài chính khác là NHTM có quyền huy động tiền gửi trong nền kinh tế mỗi khi cân vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình.
Công ty tài chính thì hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn sở hữu của mình, nếu thiếu các công ty tài chính có thể vay trên thị trƣờng các công ty cổ phần, muốn tăng nguồn vốn huy động của mình thì có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Không có một định chế tài chính nào ngoài Ngân hàng thƣơng mại có thể nhận tiền gửi từ các tổ chức cá nhân và các tổ chức trong nền kinh tế. 10 Khách hàng của NHTM là những ngƣời đóng vai trò hai mặt đối với ngân hàng. Thứ nhất, họ là những ngƣời cung cấp các điều kiện để ngân hàng hoạt động.
Họ là những ngƣời tạo nguồn vốn cho ngân hàng. Thứ hai, họ là những khách hàng sử dụng các sản phẩm của ngân hàng, nhƣ cho đi vay, sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Phần lớn, những khách hàng này, lại sử dụng chính những đồng tiền mà họ đã gửi vào. Vì vậy, khách hàng chính là những ngƣời cung cấp đầu vào cho ngân hàng và họ cũng chính là ngƣời sử dụng sản phẩm đầu ra của ngân hàng.
Cơ chế tài chính của các ngân hàng thương mại Mỗi NHTM là một đơn vị kinh doanh độc lập, có đầy đủ tƣ cách pháp nhân, có vốn tự có ban đầu và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Đồng thời các NHTM đƣợc quyền tự do kinh doanh theo khả năng của mình và đƣợc quyền cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật và những quy định của Ngân hàng Trung ƣơng nhƣ: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khung lãi suất chỉ đạo, các hệ số an toàn trong kinh doanh và các chế độ thể lệ. Vì vậy cơ chế tài chính của các NHTM có những đặc trƣng cơ bảnsau: Nguồn vốn kinh doanh của các NHTM bao gồm: Vốn do Ngân sách Nhà nƣớc cấp (đối với các Ngân hàng Thƣơng mại Quốc doanh), vốn cổ phần (đối với các NHTM Cổ phần), vốn huy động, vốn liên doanh lien kết,vốn vay (vay Ngân hàng Nhà nƣớc,vaycác tổ chức tín dụng khác, vay nƣớc ngoài). Việc quản lývốn theo nguyên tắc điều hoà trong toàn hệ thống, điều này tạo nên các nghiệp vụ về phân phối và điều hoà vốn giữa ngânhàng cấp trên với ngân hàng cấp dƣới.
Trong các NHTMquốc doanh việc hạch toán kinh tế đƣợc tiến hành theo toàn hệ thống. Hiện nay nguồn vốn kinh doanh của các NHTM đƣợc hình thành chủ yếu từ nguồn vốn huy động (chiếm khoảng 70 - 80% tổng nguồn vốn), nên vốn của các NHTM có tỷ lệ vốn tự có trêntổng số vốn hoạt động rất thấp so 11 với các ngành kinh tế khác, vì vậy các NHTM tự chủ tài chính thấp, kém an toàn. Để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi các NHTM phải tuân thủ các quy định của Ngân hàng Trung ƣơng về ký quỹ bắt buộc, các chỉ tiêu giới hạn nhƣ : Giới hạn về huy động vốn(tính theo vốn tự có đối với từng loại hình Ngân hàng và từng thời điểm khác nhau, thông thƣờng là không quá 20 lầnvốn tự có), tổng dƣ nợ cho vay một khách hàng không quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, không đƣợc dùng quá 50% vốn tự có để đầu tƣ Tài sản cố định. Do tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, nên các NHTM cần xem xét cân nhắc các khoản chi phí đầu vào sao cho phù hợp và sử dụng tối đa nguồn vốn để đầu tƣ có hiệu quả cao nhất.
Các khoản thu nhập của NHTM đƣợc xác định trên cơ sở các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của mình nhƣ: Nghiệp vụ tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, kim khí đá quý, góp vốn liên doanh liên kết, tƣ vấn đầu tƣ, các nghiệp vụ đại lý, thanh toán không dùng tiền mặt. mỗi loại nghiệp vụ khác nhau đem lại cho Ngân hàng một nguồn thu nhập mang những sắc thái và đặc điểm khác nhau. ở các NHTM hiện nay nguồn thu chủ yếu vẫn là khoản thu nhập từ nghiệp vụ tín dụng, các khoản thu nhập từ dịch vụ vẫn còn ở mức thấp, trong khi đó ở các nƣớc phát triển nguồn thu từ hoạt động dịch vụ thƣờng chiếm từ 40 - 50% tổng thu nhập của Ngân hàng, đây là nguồn thu chắc chắn và tốn ít vốn đối với NHTM. Các khoản chi phí chủ yếu của NHTMlà các khoản chi về trả lãi tiền gửi hay trả lãi tiền vay của các tổ chức kinh tế, cá nhân, của các TCTD khác, chi công tác tổ chức, quản lý Ngân hàng.
Việc quản lý các khoản chi phí này trong Ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng trông việc tăng thu nhập thực tế cho Ngânhàng. Việc tính kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận của NHTM đƣợc 12 thực hiện vào cuối năm cho toàn hệ thống. Tất cả các nghiệp vụ tính toán lãi lỗ và trích lập các quỹ ở Ngân hàng cơ sởvào hàng quý đều mang tính chất tạm tính. Lợi nhuận của Ngân hàng sau khi làm xong nghĩa vụ cho Ngân sách Nhà nƣớc không chỉ đơn thuần dùng để trích lập ba quỹ: Quỹ phát triển nghiệp vụ, quỹ khen thƣởng, quỹ phúc lợi mà còn để dùng trích lập một số quỹ khác mang tính chất bổ sung nguồn vốn hoặc dự phòng cho các rủi ro trong các hoạt động.
Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 1. Nghiệp vụ tài sản nợ Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ tạo lập vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Căn cứ vào tính chất vai trò và nguồn hình thành, nguồn vốn của ngân hàng có các loại sau đây: a. Vốn huy động Là khoản vốn mà ngân hàng huy động đƣợc thông qua hoạt động kinh doanh của mình và đƣợc sử dụng vào mục đích hoạt động kinh doanh của chính ngân hàng đó.
Nguồn vốn huy động là khoản vốn mà ngân hàng chỉ đƣợc phép sử dụng hay nói cách khác đây là khoản vốn tách dời tính sở hữu tính sử dụng rõ nét, nó có tính biến động lớn do đặc thù tạo vốn là không có kỳ hạn, có kỳ hạn dƣới 1 năm là chủ yếu và chiếm một tỷ trọng rất lớn do đó các NHTM rất chú ý đến vấn đề an toàn khả năng chi trả, luôn quan tâm đảm bảo vấn đề thanh khoản. Nguồn vốn huy động đƣợc hình thành từ các bộ phận sau: + Tiền gửi thanh toán + Tiền gửi có kỳ hạn + Tiền gửi tiết kiệm. Cùng với việc huy động tiền gửi, Ngân hàng còn huy động vốn bằng 13 các hình thức khác: Phát hành trái phiếu, phát hành chứng chỉ tiền gửi. Các loại phiếu nợ này phát hành theo từng đợt và xác định trƣớc thời hạn, lãi suất và cách trả lãi đồng thời đƣợc sử dụng vào những mục đích cụ thể.
Nguồn vốn đivay Đây là nguồn vốn mà các NHTM phải sử dụng khi đã huy động hết khả năng của mình mà vẫn thiếu vốn hoạt động. Nguồn vốn này các NHTM phải chịu lãi suất cao hơn nguồn vốn huy động nên các NHTM rất hạn chế đi vay.