CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận của kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 1. Khái niệm chi phí sản xuất: Xét dưới góc độ kế toán, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam – Chuẩn mực 01 Chuẩn mực chung, đoạn 31: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.” Khái niệm trên thể hiện bản chất kinh tế của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về dưới dạng vật chất và định lượng được như số sản phẩm hoặc dịch vụ được phục vụ.
Do vậy, chi phí luôn là vấn đề được quan tâm của các DN nhằm đảm bảo quản lí chặt chẽ và tiết kiệm tối đa chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với các DN dịch vụ, có chức năng là cung cấp những sản phẩm vô hình, việc sản xuất và tiêu dùng thường diễn ra đồng thời tại cùng một thời gian và địa điểm. Do đó quá trình cung cấp dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng nguồn lực về vật chất và lao động. Xét dưới góc độ hao phí lao động đã tiêu hao để tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ thì: “Chi phí kinh doanh dịch vụ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hoá và những chi phí cần thiết khác mà DN dịch vụ phải chi ra để tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.” ( Giáo trình Kế toán dịch vụ, PGS.Nguyễn Phú Giang, NXB Tài chính, 200 8, trang 35.) Về mặt bản chất, chi phí dịch vụ được thể hiện qua hai mặt định tính và định lượng.
Mặt định tính thể hiện các yếu tố vật chất phát sinh và tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm dịch vụ. Mặt định lượng thể hiện mức tiêu hao cụ thể của từng yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh được GVHD: PGS.TS Trần Thị Hồng Mai 7 SVTH: Bùi Thị Hà Trang Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán thể hiện bằng thước đo tiền tệ. Như vậy bản chất của chi phí là quá trình tiêu hao nguồn lực về vật chất và lao động cho việc thực hiện và cung ứng dịch vụ. Phân loại chi phí sản xuất: Cũng giống như DN sản xuất, chi phí sản xuất dịch vụ trong các DN dịch vụ gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, mục đích, công dụng và yêu cầu quản lý khác nhau.
Do vậy, phân loại chi phí kinh doanh dịch vụ là một yêu cầu tất yếu nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định quản lý. Dưới đây là một số cách phân loại chi phí kinh doanh dịch vụ: a) Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí: - Chi phí NVL: gồm toàn bộ chi phí về vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất dịch vụ. - Chi phí nhân công: gồm toàn bộ tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ. - Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số trích khấu hao của những TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh dịch vụ của DN.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các khoản tiền chi ra phục vụ cho các dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước… - Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ những chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các khoản chi phí trên. Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà DN đã chi ra phục vụ cho sản xuất dịch vụ, từ đó đánh giá tình hình thực hiện dự toán CPSX, lập kế hoạch cung ứng vật tư, lập thuyết minh BCTC. b) Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm dịch vụ. - Chi phí NVLTT: là toàn bộ các khoản chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu khác,… được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm dịch vụ.
- Chi phí NCTT: gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm dịch vụ. - Chi phí SXC: là toàn bộ những khoản chi phí sản xuất khác ngoại trừ hai khoản chi phí trên như chi phí khấu hao TSCĐ… Phân loại chi phí theo tiêu thức này giúp nhà quản lý định mức chi phí, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm dịch vụ.TS Trần Thị Hồng Mai 8 SVTH: Bùi Thị Hà Trang Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng. - Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của dịch vụ cung ứng, tuy nhiên nếu tính biến phí cho một đơn vị hoạt động thì không đổi. - Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí không biến đổi khi số lượng dịch vụ cung cấp thay đổi, nhưng tính cho một đơn vị hoạt động thì chi phí lại thay đổi.
- Chi phí hỗn hợp: là những khoản chi phí mà bản thân nó bao gồm các yếu tố định phí và biến phí, ở mức độ hoạt động nhất định, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của biến phí như chi phí điện thoại, FAX… Phân loại chi phí theo cách này giúp phân tích tình hình tiết kiệm CPSX và xác định các biện pháp thích hợp để hạ thấp CPSX dịch vụ cho mỗi một dịch vụ cung cấp. d) Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịu chi phí - Chi phí trực tiếp: là những chi phí có quan hệ trực tiếp đến việc cung ứng một loại sản phẩm dịch vụ, một công việc nhất định. Kế toán có thể căn cứ vào chứng từ để tập hợp riêng cho từng đối tượng chịu chi phí. - Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến việc cung ứng nhiều loại dịch vụ.
Kế toán tập hợp vào cuối kỳ sau đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng liên quan theo những tiêu chí nhất định. Phân loại chi phí theo tiêu thức này giúp cho việc xác định đúng đắn phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí cho các đối tượng. Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác như: phân loại chi phí theo nội dung cấu thành của chi phí bao gồm: chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp; hay phân thành chi phí chìm, chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội phục vụ cho việc ra quyết định… GVHD: PGS.TS Trần Thị Hồng Mai 9 SVTH: Bùi Thị Hà Trang Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán 1. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ 1.
Khái niệm giá thành sản phẩm dịch vụ Khi tiến hành hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ, điều mà DN luôn quan tâm là các chi phí kinh doanh dịch vụ mà các DN đã chi ra và kết quả kinh doanh thu được từ những sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành. Để xác định được kết quả kinh doanh, DN phải tính toán chính xác lượng chi phí bỏ ra để cung ứng dịch vụ đó, hay nói cách khác là xác định giá thành sản phẩm dịch vụ. Vậy, giá thành sản phẩm dịch vụ là biểu hiện của những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành. ( Giáo trình Kế toán dịch vụ, PGS.Nguyễn Phú Giang, NXB Tài chính, 2008) Có thể nói giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong quá trình kinh doanh, xác định tính đúng đắn của các giải pháp kinh tế mà DN sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng phục vụ, hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận.
Phân loại giá thành dịch vụ a) Phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ theo phạm vi tính toán chi phí: Theo cách phân loại này, người ta chia chi phí kinh doanh dịch vụ thành chi phí cố định và chi phí biến đổi. Theo đó, giá thành dịch vụ dược chia thành các loại như sau: - Giá thành sản phẩm dịch vụ bao gồm toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi: là giá thành được xác định bao gồm chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí sản xuất chung. - Giá thành sản phẩm dịch vụ theo biến phí: là loại giá thành được xác định chỉ bao gồm chi phí biến đổi (chi phí biến đổi trực tiếp và chi phí biến đổi gián tiếp), còn chi phí cố định được xem là chi phí thời kỳ và được kết chuyển toàn bộ khi xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ. - Giá thành sản phẩm dịch vụ có phân bổ hợp lý chi phí cố định: theo đó, giá thành dịch vụ bao gồm toàn bộ chi phí biến đổi và một phần chi phí cố định được xác định trên mức hoạt động thực tế so với hoạt động tiêu chuẩn (xác định theo công suất thiết kế hoặc định mức).TS Trần Thị Hồng Mai 10 SVTH: Bùi Thị Hà Trang Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán b) Phân loại giá thành dịch vụ theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành: - Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm dịch vụ được tính trên cơ sở chi phí kế hoạch và sản lượng kế hoạch.
Đó là căn cứ để so sánh, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của DN. - Giá thành định mức: được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Đây là thước đo chính xác kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động, đánh giá mức độ đúng đắn của các giải pháp kinh tế kỹ thuật, là cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Giá thành thực tế: là giá thành được tính trên cơ sở số liệu thực tế phát sinh và được tập hợp trong kỳ, là căn cứ xác định kết quả kinh doanh của DN.
Đặc điểm hoạt động dịch vụ tư vấn: 1.