CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Vai trò của hoạt động tiêu thụ đối với nền kinh tế và đối với doanh nghiệp thương mại. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường Nói đến nền kinh tế thị trường, trước hết phải nói đến thị trường. Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, nó ra đời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá.
Vậy thị trường là gì? Thị trường là nơi thể hiện tập trung nhất các mâu thuẫn của sản xuất hàng hoá, là mục tiêu khởi điểm của quá trình kinh doanh và cũng là nơi kết thúc của quá trình kinh doanh. Nguyễn Thị Ngọc Bích_TC ĐH 06_KI Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội - 10 - Khoa Kinh Tế Trong thị trường giá cả thị trường là phạm trù trung tâm, là bàn tay vô hình điều tiết nền sản xuất xã hội kích thích sản xuất. Thông qua giá cả thị trường thực hiện chức năng điều tiết và kích thích của mình. Cung cầu là phàm trù kinh tế lớn bao trùm toàn bộ thị trường, quan hệ cung cầu trên thị trường là yếu tố quan trọng nhất và trực tiếp quyết định giá cả thị trường.
Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ phát triển. Kinh tế hàng hoá phát triển điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị trường được phát triển và được mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra mà còn bao hàm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất. Dung lượng thị trường và cơ cấu thị trường được mở rộng và hoàn thiện mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hoá.
Khi đó người ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường có những đặc trưng sau: Một là: Tính chủ thể của các chủ thể kinh tế rất cao. Các chủ thể kinh tế tự bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của mình. Các chủ thể kinh tế được tự do liên kết, liên doanh, tù do tổ chức quá trình sản xuất theo luật định.
Đây là đặc trưng quan trọng nhất trong kinh tế thị trường. Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng. Điều này phản ánh trình độ phát triển cao của năng suất lao động xã hội, mức độ phát triển của qua hệ trao đổi, trình độ của phân công lao động xã hội và sự phát triển của thị trường. Người ta tù do mua bán hàng hoá, người bán tìm người mua và họ gặp nhau ở giá cả thị trường.
Đặc trưng này phản ánh tính ưu việt hơn hẳn của kinh tế thị trường so với kinh tế tự nhiên. Ba là: Giá cả được hình thành ngay trên thị trường. Giá cả thị trường vừa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá thị trường, giá cả là kết quả của sự thương lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán.
Đặc trưng này phản ánh yêu cầu của quy luật lưu thông hàng hoá. Nguyễn Thị Ngọc Bích_TC ĐH 06_KI Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội - 11 - Khoa Kinh Tế Bốn là : Cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu của kinh tế thị trường. Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi Ých kinh tế. Theo yêu cầu của quy luật giá trị tất cả các đơn vị sản xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong điều kiện đó, muốn có nhiệu lợi nhuận các đơn vị sản xuất kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng cao năng suất lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực lưu thông. Nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội. Năm là: Kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở.
Nó rất đa dạng, phức tạp, và được điều hành bởi hệ thống tiền tệ và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đó là sự định hướng của một xã hội mà sự hùng mạnh của nó nhờ vào sự giàu có và sự hạnh phúc của dân cư. Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở khoa học, công nghệ và lực lượng sản xuất hiện đại. Định hướng xã hội chủ nghĩa nêu trên không chỉ phản ánh nguyện vọng và lý tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mà còn phản ánh xu thế phát triẻn khách quan của thời đại cũng như quy luật phát triển của lịch sử.
Đặc điểm của hoạt động kinh doanh thương mại. Nền kinh tế nước ta là một tổng thể nền kinh tế quèc dân thống nhất nó bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành thực hiện một chức năng nhất định và trong đó thương mại cũng là một ngành kinh tế quốc dân rất quan trọng. Các ngành ra đời và phát triển trong nền kinh tế quốc dân là do sự phân công lao động xã hội. Chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội và là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Chính yếu tố chuyên môn hoá sản xuất đã đặt ra sự cần thiết, trao đổi các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Mối quan hệ trao đổi tiền – hàng đó chính là lưu thông hàng hoá. Nguyễn Thị Ngọc Bích_TC ĐH 06_KI Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội - 12 - Khoa Kinh Tế Quá trình lưu thông hàng hoá tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động nhất định trong quan hệ trao đổi hàng hoá trực tiếp giữa người sản xuất với người tiêu dùng và cả trong việc thực hiên những hoạt động mua và bán giữa họ với nhau, lao động đó là cần thiết và có Ých cho xã hội. Nếu nh mọi chức năng lưu thông đều do người sản xuất và tiêu dùng thực hiện thì việc chuyển hoá lao động sẽ bị hạn chế, năng suất lao động thấp hiêụ quả lao động không cao.Vì vậy, đã thúc đẩy sự ra đời của ngành lưu thông hàng hóa.
Các ngành thương mại và kinh doanh thương mại có một số đặc điểm riêng biệt sau: - Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại và lưu chuyển hàng hoá. Lưu chuyển hàng hoá là sự tổng hợp của các hoạt động thuộc các quá trình mua và bán, trao đổi và dự trữ hàng hoá. - Đặc điểm về hàng hoá: Hàng hoá trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán. - Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: Lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại có thể theo mét trong hai phương thức là bán buôn và bán lẻ.
Bán buôn hàng hoá là bán cho người kinh doanh chứ không bán thẳng tới tay người tiêu dùng. Còn bán lẻ là bán tới tận tay người tiêu dùng. - Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tổ chức công tác bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới, công ty xúc tiến thương mại. - Đặc điểm về sự vận động của hàng hoá: Sự vận động của hàng hoá trong kinh doanh thương mại cũng không giống nhau.
Do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá khác nhau giữa các loại hàng hoá. Như vậy, có thể nói chức năng của thương mại là tổ chức và thực hiện việc mua bán, trao đổi hàng hoá, cung cấp các dịch vụ nhằm phục vụ cho sản xuất, cho đời sống của nhân dân. Từ khi thương mại ra đời thì việc luân chuyển hàng hoá diễn ra nhanh hơn và nền kinh tế cũng diễn ra sôi động hơn rất nhiều. Doanh nghiệp thương mại qua hoạt động kinh doanh của mình vừa thực hiện Nguyễn Thị Ngọc Bích_TC ĐH 06_KI Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội - 13 - Khoa Kinh Tế giá trị của hàng hoá, vừa có tác dụng trực tiếp quá trình sản xuất trong khâu lưu thông.
Như vậy sản xuất và lưu thông gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên một chu trình kín, chu trình này chính là chu trình tái sản xuất xã hội. ở các doanh nghiệp thương mại quá trình này bao gồm hai khâu là mua và bán hàng hoá. Tiêu thụ hàng hoá là một khâu tất yếu trong quá trình lưu thông hàng hoá, là một yếu tố của quá trình tái sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, tăng khối lượng hàng tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường là một chức năng cơ bản của doanh nghiệp thương mại.
Ý nghĩa của hoạt động bán hàng và kết quả bán hàng. Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra các loại sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường thông qua quá trình bán hàng với mục tiêu là lợi nhuận. Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá gắn với phần lớn lợi Ých hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Quá trình bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp bởi vì quá trình này chuyển hoá vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị “tiền tệ” giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn để tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Để thực hiện quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải chỉ ra các khoản chi phí. Đó là tổng giá trị làm giảm lợi Ých kinh tế trong kỳ dưới các hình thức các khoản tiền đã chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu. Đồng thời doanh nghiệp cũng thu được các khoản doanh thu và thu nhập khác – là tổng giá trị các lợi Ých kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.