Chương I quy định về những vấn đề chung, thì Chương II phải nên quy định về DNBH và một số chủ thể kinh doanhkhác; b) cách giải thích hợp logic là phải có doanh nghiệp thì mới có sản phẩm bảo hiểm, nên sau chế định về DNBH mới nên quy định về sản phẩm bảo hiểm (được thể hiện qua hợp đồng bảo hiểm). Thứ hai, nên xác định nội dung điều chỉnh của Chương Hợp đồng bảo hiểm là điều chỉnh về các loại hình bảo hiểm (các sản phẩm bảo hiểm)để không trùng lặp với những quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) về hợp đồng bảo hiểm và phù hợp với tinh thần của Luật KDBH là điều chỉnh hoạt động kinh doanhbảo hiểm với đối tượng của hoạt động kinh doanh này là các sản phẩm bảo hiểm,bao gồm bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ. Do đó, chương về Hợp đồng bảo hiểm nên đặt tên thành Các sản phẩm bảo hiểm. Thứ ba, mục Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nên để thành một bộ phận của Chương về Hợp đồng bảo hiểm, vì đây là việc DNBH nhận chuyển giao thay thế DNBH chuyển giao để trở thành bên bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm.
Do vậy, mặc dù có những quy định đặc thù nhưng thực chất, đây là việc sửa đổi hợp đồng bảo hiểm. Thứ tư, nên nhập các quy định về doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm vào phần quy định về DNBH để thành một Chương có tên gọi là Các chủ thể kinh doanh bảo hiểm. Thiết nghĩ, đại lý bảo hiểm nhân danh DNBH để thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nên phải là mộtphần trong quy định về DNBH. Bên SV: Trần Thu Thủy Lớp: K43D7 Luan van Trường Đại học Thương Mại Luận văn tốt nghiệp cạnh đó, hoạt động môi giới bảo hiểm phải được coi là một nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm vì đây là một dịch vụ hết sức quan trọng đối với thị trường bảo hiểm (tương tự như nghiệp vụ môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán).
Một số quy định bất cập khác và hướng sửa đổi Thứ nhất, giữa BLDS và Luật KDBH không thống nhất trong quy địnhtrả tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết trong bảo hiểm con người. Trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, hợp đồng bảo hiểm cũng được quy định như là một loại hợp đồng thông dụng. Tuy nhiên, trong những quy định về hợp đồng bảo hiểm của BLDS không có quy định về người thụ hưởng mà chỉ có quy định về người được bảo hiểm, nhưng khái niệm về người được bảo hiểm cũng không được BLDS nêu ra. Trong khi đó, người thụ hưởng là một chủ thể liên quan rất quantrọng trong hợp đồng bảo hiểm con người.
Điều này tất yếu dẫn đến những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật. Thứ hai, Luật KDBH còn thiếu sự giải thích một số thuật ngữ rất phổbiến trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ như “giá trị hoàn lại” và “chi phí hợp lý”, mặc dù những thuật ngữ này được sử dụng thường xuyên trong luật và các văn bản dưới luật, nhưng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Bên cạnh đó, có nhiều thuật ngữ khác cũng có cách hiểu không thống nhất giữa các DNBH. Các DNBH đã từng thảo luận về việc thống nhất thuật ngữ, chứng tỏ đây làmột nội dung hết sức quan trọng.
Luật nên bổ sung cách hiểu các thuật ngữ phổ biến nhằm đảm bảo việc áp dụng được thuận lợi hơn. Thứ ba, Luật KDBH chưa quy định hợp lý về việc chuyển nhượng hợpđồng bảo hiểm con người. Bản chất của việc chuyển nhượng hợp đồng là việc mộtchủ thể khác sẽ thay thế vị trí pháp lý của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng.Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho người khácđể tiếp tục duy trì hợp đồng, hoặc để có một khoản tiền nhất định, hoặc không muốn hợp đồng chấm dứt vì điều đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thụ hưởng. Vấn đề này được Luật KDBH quy định tại Điều 26, nhưng thực tế điều khoảnnày chỉ đủ với hợp đồng bảo hiểm thiệt hại, khi mà bên mua bảo hiểm đồng thờilà người được bảo SV: Trần Thu Thủy Lớp: K43D7 Luan van Trường Đại học Thương Mại Luận văn tốt nghiệp hiểm (vào thời điểm mua bảo hiểm).
Đối với hợp đồng bảo hiểm con người, bên chuyển nhượng (bên mua bảo hiểm) có thể không phải là người được bảo hiểm. Do vậy, quá trình chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm con người có nhiềuvấn đề nảy sinh. Ví dụ: điều kiện đối người nhận chuyển nhượng như thế nào, cócần có sự đồng ý của người được bảo hiểm hay không v. Những bổ sung này rất quan trọng nhằm tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau khi hợp đồng được chuyển nhượng.
Nếu không có quy định cụ thể, sẽ khó khăn khi xem xét trách nhiệm của DNBH trong việc chấp thuận việc chuyển nhượng của bên mua bảo hiểm. Trên thực tế, các DNBH đều thoả thuận với bên mua bảo hiểm về việc không chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của thoả thuận chuyển nhượng, từ đó dẫn đến tình trạng DNBHchấp nhận việc chuyển nhượng để tiếp tục thu phí, đến khi sự kiện bảo hiểm xảyra lại từ chối trả tiền bảo hiểm mà chỉ hoàn lại phí bảo hiểm vì hợp đồng không còn hiệu lực. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, mặc dù theo nguyên tắc thoả thuận,phải có sự chấp thuận của DNBH, nhưng để đảm bảo quy định của pháp luật về bên mua bảo hiểm, cần sửa đổi, bổ sung Điều 26 theo hướng quy định cụ thể ngườinhận chuyển nhượng phải thoả mãn điều kiện là bên mua bảo hiểm theo quy địnhcủa pháp luật. Bên cạnh đó, vì việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm con ngườikhông làm thay đổi người được bảo hiểm, nên việc chuyển nhượng phải có sự đồngý của chủ thể này.
Nếu người được bảo hiểm không có năng lực hành vi dân sự đầyđủ thì sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp khác là điều kiện đểchuyển nhượng hợp đồng. Thứ tư, khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm không thật sự hợplý với bản chất của bảo hiểm con người. Theo quy định của Luật KDBH thì"quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sửdụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượngđược bảo hiểm". Thực chất, quyền lợi có thể được bảo hiểm quy định như trên chỉ là những quyền lợi vật chất thuần tuý của bên mua bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm.
Trên thực tế, bảo hiểm con người không mang yếu tố bồi thườngthiệt hại, mà là sự bù đắp tổn thất SV: Trần Thu Thủy Lớp: K43D7 Luan van Trường Đại học Thương Mại Luận văn tốt nghiệp tính mạng, sức khoẻ của người được bảo hiểm đối với chính người này và người thân của họ (đồng thời có thể có yếu tố tiếtkiệm như trong bảo hiểm nhân thọ chẳng hạn). Chính vì vậy, những lợi ích tinh thần cần phải được đánh giá đúng mức nhằm xác định quyền lợi có thể được bảohiểm như quan hệ hôn phối, quan hệ ông bà với cháu, giữa chủ sử dụng lao độngvà người lao động v. trong bảo hiểm con người.4 Nội dung kế toán cung ứng dịch vụ trong doanh nghiệp dịch vụ 2.1 Kế toán cung ứng dịch vụ trong chuẩn mực kế toán Việt Nam Cho tới nay, Việt Nam đã ban hành được 26 CMKT và DNBH phải áp dụng hầu hết các CMKT đã ban hành, trừ và CMKT số 22 "Trình bày bổ sung BCTC của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự". CMKT áp dụng riêng cho DNBH đã được nghiên cứu và ban hành.
Chuẩn mực 14 “ Doanh thu và thu nhập khác” Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn điều kiện sau: (a) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; (b) Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; (c) Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán; (d) Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành.
Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành. SV: Trần Thu Thủy Lớp: K43D7 Luan van Trường Đại học Thương Mại Luận văn tốt nghiệp Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu. Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu.
Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi. Doanh nghiệp có thể ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thỏa thuận được với bên đối tác giao dịch những điều kiện sau: (a) Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận dịch vụ; (b) Giá thanh toán; (c) Thời hạn và phương thức thanh toán. Để ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ thống kế hoạch tài chính và kế toán phù hợp. Khi cần thiết, doanh nghiệp có quyền xem xét và sửa đổi cách ước tính doanh thu trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ: (a) Đánh giá phần công việc đã hoàn thành; (b) So sánh tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành; (c) Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ. Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng.