CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, người SDLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết” [3, tr 6] Theo điều Luật BHXH hiện hành, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH [2, tr 2]. Đặc điểm của BHXH BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH.
Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH. Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp đề hình thành quỹ BHXH. Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định. Đó chính là mối quan hệ của bên tham gia BHXH.
Từ mối quan hệ về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây: 7 - BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH. - BHXH là một loại hàng hóa tư nhân mang tính bắt buộc do nhà nước cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao động do Nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ. Hiện nay ở Việt Nam, việc tham gia BHXH là bắt buộc, do Nhà nước quản lý và cung cấp.
- Cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế 3 bên: Cơ quan BHXH- người sử dụng lao động – người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý nhà nước. BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra làm, do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt Nam. Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền: cung BHXH do Nhà nước độc quyền, cầu thì bắt buộc cầu và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ kém. - Thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, thực hiện nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ BHXH chặt chẽ, đúng đối tượng và đúng thời hạn.
Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào quỹ riêng, độc lập với Ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất và sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu chi- theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển. - Người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế. Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của người lao động. Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của NLĐ.
Ý nghĩa của BHXH Ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội như sau: - Đối với NLĐ: BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho những NLĐ gặp phải rủi ro, bất hạnh, nhanh chóng khắc phục nhũng khó khăn bằng cách tạo cho họ nhữn thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạt thuận lợi… giúp cho họ ổn định cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họ niềm tin vào tương lai, từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như tinh thần nỗ lực vì sự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. - Đối với xã hội: + Cần phải khẳng định rằng, BHXH là một loại dịch vụ công. Hoạt động BHXH giống như một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “bảo hiểm” cho NLĐ, một loại dịch vụ cần cho mọi người chứ không phải chỉ là cán bộ, công nhân viên chức.
Khi các tổ chức này sản xuất và cung ứng ngày càng nhiều loại dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng đa dạng các nhu cầu của người dân thì giá trị của những loại dịch vụ này ngày càng tăng và là một bộ phận trực tiếp làm gia tăng tổng sản phẩm xã hội. Dưới giác độ này, BHXH được xem là một ngành dịch vụ quan trọng của nền kinh tế. + Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ giải quyết những vấn đề “rủi ro” xảy ra đối với NLĐ, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của họ và tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động xã hội. 9 Thông qua sự trợ giúp của BHXH đối với NLĐ khi họ gặp rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế, BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia, kích thích tiêu dùng của xã hội, hỗ trợ và bổ sung các chính sách vĩ mô khác của Chính phủ.
+ Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ đến hệ thống tài chính quốc gia, tới hoạt động của hệ thống tín dụng, tiền tệ, ngân hàng. Chính vì vậy, trong các hoạt động của BHXH, luôn đặt ra một yêu cầu: quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát triển bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu tư phát triển phần nhàn rỗi của quỹ. Đây là một trong những kênh vốn quan trọng, có tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế của đất nước, là một trong những nguồn đầu tư lớn tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho NLĐ, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho NLĐ và tăng tổng sản phẩm quốc dân. + BHXH cũng là một chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.
Sự phân phối lại thu nhập này được tiến hành qua hai cách: phân phối lại giữa người khỏe và người già, giữa nam và nữ, người làm việc và người đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi và người cao tuổi, giữa nam và nữ, người đang hưởng trợ cấp và người chưa được hưởng trợ cấp. Đây được coi là phân phối lại chiều ngang. Còn phân phối lại theo chiều dọc là thực hiện điều tiết giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa người giàu và người nghèo. Đây là một mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô.
Nguyên tắc hoạt động của BHXH Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên nguyên tắc sau: - Nguyên tắc đóng hưởng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH. Đây là 10 nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung của số đông bù cho số ít là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong cuộc sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nước là việc rủi ro trong BHXH không chỉ là những rủi ro thuần túy như trong bảo hiểm thương mại mà còn có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,… - Mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng khoản trợ cấp đó. Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lý và cũng là quy định chung cho tất cả các nước, song thấp bao nhiêu còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước trong mỗi thời kỳ khác nhau.
- Phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong chính sách BHXH của các nước. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước giống như giai đoạn trước cải cách năm 1995 của nước ta thì đây thực sự là một gánh nặng lớn cho đất nước. Việc thành lập quỹ BHXH do các bên tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nước là hoàn toàn phù hợp. Quỹ này có thể quản lý theo cách thức khác nhau song độc lập với NSNN, NSNN chỉ bù thiếu hoặc tài trợ một phần tùy thuộc vào quy định của mỗi nước khác nhau.
NỘI DUNG QUẢN LÝ THU BHXH 1. Khái niệm quản lý thu BHXH Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý là tập thể con người để khơi nguồn các động lực sáng tạo, phối hợp và hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý thu BHXH. Tuy nhiên có thể coi quản lý thu BHXH là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ 11 quan BHXH nhằm đảm bảo đơn vị SDLĐ và NLĐ chấp hành nghĩa vụ nộp BHXH vào quỹ BHXH theo quy định của pháp luật.
Quản lý thu BHXH đảm bảo cho chính sách BHXH được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn. Quản lý tốt việc thu BHXH chính là điều hành, giám sát để đơn vị SDLĐ và NLĐ phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số phải nộp BHXH vào quỹ BHXH. Vì vậy, có thể khẳng định quản lý thu BHXH có vai trò quyết định đối với sự ổn định và phát triển quỹ BHXH.