phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG TỪ THIỆN XÃ HỘI 1. Truyền thông và xây dựng kế hoạch truyền thông 1. Khái niệm về truyền thông, truyền thông đại chúng - Truyền thông (Tiếng Anh: Communication) là quá trình chia sẻ thông tin.
Truyền thông theo nghĩa đơn giản nhất là một kiểu tƣơng tác xã hội, trong đó ít nhất có hai tác nhân tƣơng tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung, hay hiểu theo cách khác là truyền từ ngƣời gửi tới ngƣời nhận. Theo quan niệm của Martin P. Adelsm: “Truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu đƣợc ngƣời khác và làm cho ngƣời khác hiểu đƣợc chúng ta. Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống” [9, tr.
11] Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về truyền thông cũng khá phong phú, trong số đó, tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng” đƣa ra quan niệm: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm ngƣời trong xã hội nhằm đạt đƣợc sự hiểu biết lẫn nhau” [30, tr. Các tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn “Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản” đã đƣa ra quan niệm: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm., chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều ngƣời nhằm tăng cƣờng hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm, cộng đồng/xã hội. Theo quan niệm này, thứ nhất, truyền thông là một quá trình chứ không phải là một việc nhất thời trong khuôn khổ thời gian hẹp; thứ hai, truyền thông là sự chia sẻ, trao đổi thông tin phải có ít nhất hai thực thể và các thực thể có thể đổi chỗ cho nhau trong mối quan hệ phát – nhận thông điệp. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những quan niệm về truyền thông đã nêu trên, có thể rút ra một khái niệm nhƣ sau: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng, nhằm tạo sự liên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức và hành vi.
Trong lịch sử nghiên cứu về truyền thông, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra các mô hình truyền thông khác nhau. Nổi bật trong số đó là mô hình truyền thông một chiều của Harold D. Hạn chế lớn nhất của mô hình truyền thông của Harold D.Lasswell [S (Source Sender) - > M (Message) -> C (Channel) -> R (Receiver) -> E (Effect)] là ngƣời tiếp nhận thông tin luôn bị động, ít có cơ hội phản hồi ý kiến của mình đối với nhà sản xuất thông tin. Còn mô hình truyền thông của Claude Shannon: [S (Source Sender) - > M (Message) -> C (Channel) ->N (Noise) -> R (Receiver) -> E (Effect) -> F (Feedback) - > S (Source Sender)] có ƣu điểm hơn mô hình truyền thông của Harold D.Lasswell, bởi nó chỉ rõ đƣợc thông tin từ nhà sản xuất đến đƣợc với ngƣời nhận có thể bị nhiễu, không còn chính xác nhƣ ban đầu, do đó hiệu quả thông tin có thể thấp.
Tuy nhiên, nhờ việc ngƣời nhận thông tin chủ động phản hồi ý kiến của mình về sự hài lòng và mong muốn chất lƣợng thông tin, ngƣời sản xuất thông tin có thể điều chỉnh cho phù hợp với từng loại đối tƣợng tiếp nhận thông tin và đầu tƣ cơ sở vật chất nhiều hơn. Truyền thông có hiệu quả, nghĩa là những thông tin đƣợc truyền đạt một cách nhanh chóng, chính xác, làm ngắn lại khoảng cách hiểu biết giữa con ngƣời với con ngƣời. Nếu xét trong một xã hội, thì vòng tròn khép kín và mối quan hệ qua lại bởi thông tin nhiều chiều giữa Nhà nƣớc, các phƣơng tiện thông tin đại chúng và các tầng lớp xã hội có tác dụng thúc đẩy xã hội tiến lên, đó chính là quá trình vận động tất yếu của truyền thông. Truyền thông gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, mục tiêu.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đƣa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này đƣợc thể hiện qua nhiều hình thức nhƣ động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin phát thanh, truyền hình… Mục tiêu hƣớng đến có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính ngƣời/tổ chức gửi đi thông tin. - Các kênh truyền thông: Kênh truyền thông chính là phƣơng tiện kỹ thuật và phƣơng thức chuyển tải thông tin, mà phƣơng thức chuyển tải thông tin lại phụ thuộc rất nhiều vào việc đối tƣợng tiếp nhận thông tin bằng giác quan nào (nhƣ: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác). Có thể kể tới một số kênh truyền thông, nhƣ: truyền thông đại chúng; truyền thông trực tiếp (mặt đối mặt); truyền thông dân gian.
Vấn đề nghiên cứu của luận văn này liên quan chủ yếu tới truyền thông đại chúng. Chính vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung vào làm rõ thuật ngữ truyền thông đại chúng. -Thuật ngữ truyền thông đại chúng (bao gồm: báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, sách, băng nhạc, băng hình, internet, đĩa CD-ROM…) lần đầu tiên đƣợc dùng trong lời nói đầu của Hiến chƣơng Liên hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục (UNESCO) năm 1946. Sau đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống thƣờng nhật và trong khoa học.
Ngày nay, truyền thông đại chúng đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội nhƣ: tâm lý học, lịch sử học, báo chí học. Đã có nhiều tác giả trong nƣớc và trên thế giới nghiên cứu về truyền thông đại chúng. Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng quan niệm: “ Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng” [21 , tr.10] Dƣới góc độ Xã hội học, truyền thông đại chúng đƣợc nghiên cứu nhƣ một quá trình xã hội, bao gồm các yếu tố là: nhà truyền thông, công chúng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp nhận, thông điệp, kênh (các phƣơng tiện kỹ thuật) để truyền bá thông tin cho đại chúng. Luận văn này sẽ khảo sát 3/rất nhiều phƣơng tiện truyền thông đại chúng, đó là báo in CAND với phiên bản CAND online và truyền hình Công an (An ninh tivi), do đó tác giả luận văn sẽ điểm qua một số khái niệm liên quan về phƣơng tiện truyền thông đại chúng.
Trong Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Báo chí, Chƣơng I, Điều 1, ghi rõ: - Báo In: là tên gọi loại hình báo chí đƣợc thực hiện bằng phƣơng tiện in. - Báo hình: là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng truyền hình - Báo điện tử: là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng Internet [ Luật Báo chí và các văn bản hƣớng dẫn thi hành (2004), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. Khái niệm về kế hoạch truyền thông - Khái niệm “Kế hoạch”: Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Kế hoạch là toàn bộ nói chung những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành” [Viện ngôn ngữ học (1995), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXN Đà Nẵng, tr. Theo định nghĩa này, công việc xây dựng một bản kế hoạch chính là việc vạch ra (trong ý tƣởng) những công việc dự định sẽ làm với những nét cơ bản nhất.
Theo tác giả Đinh Văn Hƣờng:“ Kế hoạch là một chƣơng trình hành động có mục đích của tòa soạn, trong đó xác định mục tiêu, nội dung, phƣơng hƣớng, giải pháp và thời gian để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó vào thực tế.95] - Khái niệm "Kế hoạch truyền thông": theo nghĩa Tiếng Anh đƣợc gọi là "Communication Strategy" hay "Communication Plan". Do vậy, việc xây 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dựng kế hoạch truyền thông đảm bảo cho hoạt động thƣờng xuyên liên tục nhịp nhàng ở tất cả các bộ phận, các cán bộ, phóng viên, biên tập viên trong tòa soạn để có sản phẩm truyền thông ra đời đúng định kỳ, có chất lƣợng, hấp dẫn. Hiểu theo cách khác, xây dựng kế hoạch truyền thông chính là dự kiến những công sẽ làm trong hoạt động truyền thông cụ thể về thời gian, nhằm đem lại hiệu quả công việc một cách cao nhất. Trên thực tế, việc xây dựng kế hoạch truyền thông của các cơ quan báo chí truyền thông chính là việc dự kiến, tính toán, lựa chọn, sắp xếp các hoạt động truyền thông theo trình tự nhất định, nhằm huy động cao nhất nguồn lực, nhằm tác động phù hợp và từng bƣớc đến các nhóm đối tƣợng cụ thể.
Do vậy, kế hoạch truyền thông là một công cụ mang tính bắt buộc, cần đƣợc thông qua cùng với kế hoạch tổng thể hƣớng tới mục tiêu chung. Từ nghiên cứu trên, chúng tôi đƣa ra quan niệm về kế hoạch truyền thông nhƣ sau: Kế hoạch truyền thông là việc lên ý tƣởng, sắp xếp các hoạt động truyền thông theo thời gian chi tiết, nhằm đạt đƣợc kết quả mong muốn. Nhƣ vậy, xây dựng kế hoạch truyền thông, dƣới góc độ báo chí học, đƣợc xem nhƣ xây dựng một kế hoạch chi tiết cho một lộ trình công tác cụ thể. Tất cả các tòa soạn báo chí đều có kế hoạch hoạt động cụ thể và chi tiết, có khả năng kiểm soát mọi nguồn thông tin, đáp ứng kịp thời các yêu cầu hàng ngày của bạn đọc.
Ở tòa soạn báo hàng ngày, nếu không có kế hoạch chi tiết, mọi ngƣời sẽ tất bật đuổi theo các sự kiện, vừa vất vả, vừa không đạt hiệu quả cao. Đặc điểm của kế hoạch truyền thông - Kế hoạch truyền thông mang tính pháp lệnh Mỗi một kế hoạch truyền thông là một chƣơng trình hành động có tính mục đích, nhằm đạt tới một kết quả cụ thể nào đó của một cơ quan báo chí – truyền thông. Khi kế hoạch truyền thông đƣợc vạch ra và đƣợc cấp lãnh đạo 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao nhất thông qua thì những ngƣời có tên trong kế hoạch truyền thông đó phải nghiêm túc thực hiện theo một sự chỉ đạo chung, tuân thủ cao nhất kỷ luật lao động đã đƣợc qui định của cơ quan đó.