Mở đầu - Đưa ra lý do cho thấy tính cấp thiết của đề tài - Giới thiệu mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa và phương pháp thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Quy trình hoạch định kế hoạch tiếp thị giữa các tổ chức. - Phân tích PEST, mô hình năm áp lực cạnh tranh và phân tích SWOT. - Ma trận hình ảnh cạnh tranh theo Fred R.
Chương 3: Phân tích thực trạng tiếp thị của Phòng kinh doanh vải - Vai trò của Phòng kinh doanh vải. - Phân tích thực trạng tiếp thị năm 2013. Chương 4: Lập kế hoạch tiếp thị giai đoạn 2014 - 2015 - Phân tích môi trường tiếp thị bên trong, bên ngoài làm cơ sở cho việc lập kế hoạch. - Xác định mục tiêu và chiến lược tiếp thị.
- Lập kế hoạch tiếp thị 4P. - Lập kế hoạch chi tiết cho từng năm. Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Đánh giá tính khả thi của đề tài và kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Đề tài sử dụng cơ sở lý thuyết về tiếp thị giữa các tổ chức để xây dựng kế hoạch tiếp thị giai đoạn 2014 – 2016.
Các lý thuyết được sử dụng gồm Quy trình hoạch định tiếp thị giữa các tổ chức – Vũ Thế Dũng, 2002; Mô hình chuỗi giá trị và năm tác lực cạnh tranh; Phân tích PEST; Phân tích SWOT. Định nghĩa tiếp thị: Tiếp thị là quá trình xã hội và quản lý, trong đó các cá nhân thỏa mãn nhu cầu thông qua việc tạo ra và trao đổi các sản phẩm, dịch vụ có giá trị đối với người khác. (Kotler, 1994) Định nghĩa trên đã bao hàm cả hoạt động tiếp thị giữa các tổ chức, trong đó nhấn mạnh đến khách hàng không phải là các cá nhân mà là các tổ chức. Các khách hàng này mua hàng hóa và dịch vụ để sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của mình.1 Quy trình hoạch định tiếp thị giữa các tổ chức Phân tích môi trường kinh doanh nội vi và ngoại vi Thực hiện các chính sách và thủ Xác định thị trường mục tiêu hay tục để đánh giá và điều khiển các phân khúc sẽ hướng tới Xác định các tiêu chuẩn để đánh Xác định mục tiêu cần đạt được giá và điều khiển hoạt động trong từng phân khúc mục tiêu Thực hiện các chương trình hành Phát triển chiến lược tiếp thị tổng động trong từng phân khúc thể để đạt được mục tiêu đề ra Thiết kế các chương trình hành Thiết kế chương trình tiếp thị hỗn động hợp Hình 2.1 Quy trình hoạch định tiếp thị giữa các tổ chức.
Nguồn: Vũ Thế Dũng, 2002, trang 81. 5 Bước đầu tiên của việc lập kế hoạch là phân tích môi trường tiếp thị gồm phân tích ngoại vi và phân tích nội vi. Phân tích ngoại vi nhằm tìm kiếm các thông tin về thị trường hiện tại hay thị trường mà công ty dự kiến xâm nhập. Các phân tích chính cần tiến hành gồm các yếu tố môi trường, điều kiện thị trường, khách hàng, các kênh phân phối, các đối thủ cạnh tranh.
Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Micheal E. Porter là một công cụ thường được sử dụng trong phân tích ngoại vi. Phân tích nội vi là thu thập các thông tin bên trong nội bộ công ty. Các thông tin này cho biết các nguồn lực, các khả năng của công ty.
Thông qua phân tích nội vi, công ty xác định được các thế mạnh cũng như điểm yếu của mình. Mô hình Value chain của Michael E. Porter thường được sử dụng để nghiên cứu nội vi. Porter định nghĩa công ty như một đơn vị tạo giá trị, ông chia các hoạt động của công ty thành hai nhóm chính là các hoạt động trực tiếp tạo giá trị và các hoạt động hỗ trợ.
Theo ông tất cả các hoạt động của công ty đều tạo ra giá trị, tuy nhiên điều quan trọng là sự liên kết giữa các hoạt động này để tạo ra giá trị cộng hưởng. Hạ tầng cơ sở của xí nghiệp Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Quy trình Lợi nhuận Hậu Sản Hậu Tiếp Dịch vụ cần xuất cần thị bên bên bán ngoài trong hàng Hình 2.2 Mô hình chuỗi giá trị của Michael E. 6 Sau khi tiến hành phân tích môi trường, công việc tiếp theo là phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu. Khi các phân khúc mục tiêu đã được xác định, công việc tiếp theo là xác định các khó khăn và trở ngại cần vượt qua khi xâm nhập các phân khúc này.
Công ty phải lường trước được các khó khăn cũng như đánh giá đúng khả năng của mình mới có thể ra quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn thị trường mục tiêu. Các mục tiêu tiếp thị cần cụ thể, có tính hiện thực, thống nhất và đo lường được. Các mục tiêu tiếp thị phải thống nhất và phù hợp với mục tiêu chung của công ty cũng như các bộ phân khác. Bên cạnh đó, các mục tiêu này cần phải đo lường được để các nhà quản lý có thể đánh giá được tính hiệu quả của công tác tiếp thị.
Sau khi đã xác định các mục tiêu cụ thể cho từng thị trường, bước tiếp theo là phát triển các chiến lược để thực hiện các mục tiêu này. Chiến lược tiếp thị bao gồm những nguyên tắc rộng mà theo đó các công ty kỳ vọng đạt được những mục tiêu về kinh doanh và tiếp thị trên thị trường mục tiêu của mình. Nó bao gồm các quyết định cơ bản về chi phí tiếp thị, tiếp thị hỗn hợp và phân bổ các nỗ lực tiếp thị. Các chiến lược phổ quát gồm xâm nhập thị trường, các công ty tìm cách tăng doanh số các sản phẩm hiện có bằng ba cách là khuyến khích khách hàng hiện tại mua nhiều hơn, thu hút khách hàng của đối thủ cạnh tranh hoặc phát triển các khách hàng tiềm năng hiện tại chưa mua hàng; Phát triển thị trường là chiến lược các công ty tìm kiếm thị trường mới cho các sản phẩm, dịch vụ hiện có của mình; Chiến lược phát triển sản phẩm các công ty xem xét việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới cho các khách hàng hiện tại; Chiến lược đa dạng hóa là việc các công ty phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới và tiếp thị các sản phẩm, dịch vụ này trên các thị trường mới.
(Vũ Thế Dũng, 2002) Xây dựng chương trình tiếp thị hỗn hợp là tập hợp các công cụ tiếp thị mà công ty sử dụng để theo đuổi các mục tiêu của mình trên từng phân khúc mục tiêu. Thông thường khi nói đến tiếp thị hỗn hợp người ta nói đến bốn thành tố chính là sản phẩm, giá, phân phối và chiêu thị. 7 Sau khi đã thiết kế chương trình tiếp thị hỗn hợp với từng thành tố cụ thể cho từng phân khúc thị trường mục tiêu, việc tiếp theo của nhà hoạch định kế hoạch marketing là lập kế hoạch thực hiện các chương trình này bao gồm việc trả lời các câu hỏi như công việc nào cần thực hiện? Ai là người thực hiện? Chi phí cho mỗi công việc là bao nhiêu? Ở bước thực hiện chương trình hành động, nhà quản lý thực hiện các chức năng cơ bản là điều phối công việc giữa các thành viên, khuyến khích và thúc đẩy các thành viên thực hiện tốt chức năng của mình, truyền thông các mục tiêu, kế hoạch đến mọi thành viên của tổ chức. Các công việc cần thực hiện gồm dự kiến thời gian để hoàn tất từng công việc; sắp xếp các công việc theo thứ tự logic; kết hợp các công việc riêng lẻ thành các chương trình; Xác định thời gian cụ thể để bắt đầu và hoàn tất công việc; Phân công công việc cho từng nhân sự; xác định chi phí và ngân sách.
Tiến độ công việc cần theo dõi chặt chẽ để có những điều chỉnh cần thiết. Có thể áp dụng các công cụ của quản lý dự án như sơ đồ PERT hay CPA để công việc đựa hiệu quả. Các bước cuối cùng của quy trình hoạch định kế hoạch tiếp thị là xác định các biện pháp, tiêu chuẩn để đánh giá kết quả công việc, phân công công việc kiểm soát cho những nhân sự cụ thể, hình thức báo cáo, quy trình, chu kỳ báo cáo. Với tính chất là một kế hoạch tiếp thị, đề tài giới hạn trong việc lập kế hoạch triển khai và các đề xuất một số tiêu chuẩn, thủ tục để kiểm soát, đánh việc thực hiện kế hoạch.
Hoạt động đánh giá kết quả là hoạt động sau khi kế hoạch được triển khai sẽ không được thực hiện trong đề tài này.2 Phân tích PEST PEST là viết tắt chữ cái đầu tiên của các cụm từ chính trị (political), kinh tế (economic), văn hóa – xã hội (sociocultural) và công nghệ (technological). Đây là bốn yếu tố định hình nên môi trường của một ngành kinh tế. Mô hình PEST được sử dụng trong đề tài nhằm phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, có tác động đến hoạt động tiếp thị của sản phẩm vải. 8 Yếu tố chính trị có tầm ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, đe dọa sự tồn tại và phát triển của bất kì ngành kinh doanh nào.
Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó. Các chính sách thuế như xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập… hoặc các chính sách ưu tiên phát triển ngành, điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Yếu tố kinh tế thể hiện triển vọng của nền kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ lên hoạt động, mức sinh lời của ngành và doanh nghiệp. Các chỉ số cần theo dõi là: tỷ lệ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại hối, sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ… Triển vọng kinh tế xấu có thể khiến tiêu dùng giảm sút và ảnh hưởng tiêu cực lên doanh số của ngành.
Doanh nghiệp vì vậy cần theo dõi kinh tế vĩ mô để dự báo và có các kế hoạch kinh doanh phù hợp: mở rộng hay thu hẹp, phòng thủ hay tấn công giành thị phần từ đối thủ… Các yếu tố văn hóa – xã hội có thể làm hình thành nhiều xu hướng tiêu dùng. Ví dụ có thể kể đến như giải phóng và bình quyền đối với phụ nữ, nhu cầu chăm sóc bản thân, tiêu dùng của giới trẻ… Doanh nghiệp nghiên cứu các xu hướng này để xác định nhu cầu của thị trường, định vị sản phẩm/dịch vụ phù hợp với thị hiếu.