phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn của Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex). Chƣơng 3: Những giải pháp chủ yếu huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex). 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.
HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP. Vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc trưng về vốn Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất, kinh doanh nào. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.
Theo lý thuyết kinh tế cổ điển vốn là một trong các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh. Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền đƣợc chế tạo để sử dụng trong sản xuất, kinh doanh (máy móc, thiết bị, nhà cửa, sản phẩm. Quan điểm này nhìn nhận vốn dƣới góc độ hiện vật là chủ yếu. Samuelson và William D.
Nordhaus trong kinh tế học: ‟ Vốn là khái niệm thƣờng dùng để chỉ các hàng hoá làm vốn nói chung, một nhân tố sản xuất. Một hàng hoá làm vốn, khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà xƣởng, thiết bị, kho tàng.); vốn tài chính (tiền, chứng khoán. Theo quan điểm này vốn bao gồm hai loại: vốn vật chất và vốn tài chính. Trong bộ ‟‟Tƣ bản‟‟ C.Mác đã khái quát hoá phạm trù vốn thông qua phạm trù tƣ bản.Mác: Tƣ bản là giá trị mang lại giá trị thặng dƣ qua quá trình vận động của nó.
Nhƣ vậy vốn là giá trị toàn bộ tài sản doanh nghiệp dùng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời cho doanh nghiệp. Vốn có những đặc trƣng sau đây: 5 Thứ nhất: Vốn đại diện cho một lƣợng giá trị tài sản, có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lƣợng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải., quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế, giấy phép nhƣợng quyền. Thứ hai: Vốn phải đƣợc vận động nhằm mục đích sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhƣng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị – là tiền.
Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn. Thứ ba: Vốn phải đƣợc tích tụ và tập trung đến một lƣợng nhất định nào đó mới làm cho nó có đủ sức để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh. Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian, do ảnh hƣởng của giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đầu tƣ vốn và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ năm: Vốn luôn gắn với chủ sở hữu nhất định. Tuy nhiên ngƣời sở hữu vốn với ngƣời sử dụng vốn có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất. Thứ sáu: Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt, đƣợc mua bán trên thị trƣờng dƣới hình thức mua, bán quyền sử dụng vốn. Gía cả của hàng hoá đặc biệt này trên thị trƣờng đƣợc thể hiện là số lợi tức mà ngƣời mua quyền sử dụng vốn phải trả cho ngƣời đã nhƣợng đi quyền sử dụng vốn; đƣợc thoả thuận, có tính chất xác định trƣớc, cũng có thể chƣa đƣợc xác định trƣớc.
Gía cả của vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó dặc biệt là quan hệ cung – cầu trên thị trƣờng vốn. Vai trò của vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất, kinh doanh nào. Khi thành lập doanh nghiệp phải có một lƣợng vốn tối thiểu cần thiết đầu tƣ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. 6 Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn là điều kiện để doanh nghiệp đầu tƣ thay thế tài sản cố định, đầu tƣ cho sự tăng trƣởng của doanh nghiệp.
Nhƣ vậy vốn có thể đƣợc xem là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp. Quy mô vốn của doanh nghiệp nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô tài sản, ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô thị trƣờng và khả năng thâm nhập, mở rộng thị trƣờng của doanh nghiệp. Có vốn lớn doanh nghiệp có cơ hội mở rộng phạm vi hoạt động, có thể đầu tƣ vào lĩnh vực kinh doanh mới hoặc cũng có thể cải tiến nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng. Vốn là yếu tố quyết định đến việc đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu khoa học, ứng dụng các thành tựu tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh; quyết định khả năng đổi mới trang thiết bị, quy trình công nghệ, phƣơng pháp quản lý trong doanh nghiệp.
Quy mô vốn là một trong những tiêu thức quan trong để phân biệt quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có thế đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; thực hiện giám sát kiểm tra thƣờng xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đƣa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại vốn theo đặc điểm luân chuyển của vốn Theo cách phân loại này vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc chia thành 2 loại: Vốn cố định và vốn lƣu động. + Vốn cố định: Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận vốn đầu tƣ ứng trƣớc về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ 7 sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Tài sản cố định là những tƣ liệu lao động chủ yếu đƣợc sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Tài sản cố định của doanh nghiệp gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhƣ máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải, nhà xƣởng. Thông thƣờng các tài sản đƣợc ghi nhận là tài sản cố định hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả 4 tiêu chuẩn sau đây: - Chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai từ việc sử dụng tài sản đó; - Nguyên giá tài sản phải đƣợc xác định một cách đáng tin cậy; - Thời gian sử dụng ƣớc tính trên 1 năm; - Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Tài sản cố định vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhƣng xác định đƣợc giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tƣợng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình nhƣ quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế, giấy phép nhƣợng quyền. Đặc điểm chung của các tài sản cố định trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định là không thay đổi, song giá trị của nó lại chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đƣợc bù đắp khi sản phẩm đƣợc tiêu thụ.
Những đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình sử dụng có ảnh hƣởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố 8 định. Có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất, kinh doanh nhƣ sau: - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này do đặc điểm của tài sản cố định đƣợc sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định. - Vốn cố định đƣợc luân chuyển dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất một bộ phận vốn cố định đƣợc luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dƣới hình thức chi phí khấu hao) tƣơng ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định - Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn đƣợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần tăng lên, phần vốn đầu tƣ ban đầu vào tài sản cố định dần giảm xuống; cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định hoàn thành 1 vòng luân chuyển. Vốn cố định là bộ phận vốn quan trọng trong toàn bộ vốn của doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy môtài sản cố định, ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Những đặc điểm luân chuyển của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định.
+ Vốn lưu động: Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trƣớc để đầu tƣ, mua sắm các tài sản lƣu động của doanh nghiệp. Tài sản lƣu động đƣợc chia làm 2 loại: tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông. Tài sản lƣu động sản xuất bao gồm các loại nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, phụ tùng thay thế. đang trong quá trình dự trữ sản xuất, sản xuất hoặc chế biến.