Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2016-2020, Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân đạt từ 8% đến 8,5%/năm, đòi hỏi tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính khoảng 1.379 nghìn tỷ đồng, tương đương 30% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và tăng 53,3% so với giai đoạn 2011-2015. Xét theo tầm nhìn dài hạn đến năm 2030, nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Thành phố lên tới 1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 44 tỷ USD. Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện hữu đang quá tải nghiêm trọng với các điểm nghẽn về ùn tắc giao thông, ngập úng và ô nhiễm môi trường.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là sự mất cân đối gay gắt giữa nhu cầu vốn khổng lồ và khả năng đáp ứng của các phương thức tài trợ hiện tại. Trong giai đoạn 2011-2015, tổng nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng đô thị trọng điểm là 397.817 tỷ đồng, nhưng tổng nguồn lực thu xếp được từ ngân sách nhà nước và vốn vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chỉ đạt 130.295 tỷ đồng, tương ứng 32,75%. Khoảng thiếu hụt tài chính lên tới 67,25% buộc chính quyền đô thị phải tìm kiếm các giải pháp đột phá.

Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa các phương thức huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng trên thế giới, đánh giá thực trạng phân bổ nguồn lực tại địa phương giai đoạn 2006-2015, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thu hẹp khoản thiếu hụt 380.894 tỷ đồng cho 4 chương trình đột phá hạ tầng giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thiện cơ chế phân cấp tài khóa và nâng cao hiệu quả đầu tư công đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng bốn lý thuyết nền tảng của kinh tế học khu vực công: lý thuyết phân cấp tài khóa, lý thuyết chuyển giao nguồn lực liên chính phủ, lý thuyết tài trợ nợ của chính quyền địa phương và lý thuyết đối tác công - tư (PPP). Khung phân tích được xây dựng trên bốn trụ cột huy động tài chính đô thị gồm: nguồn vốn ngân sách và công cụ nợ công; sự tham gia của khu vực tư nhân; các kỹ thuật khai thác giá trị gia tăng từ đất đai; và hệ thống định chế tài chính chuyên biệt.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, năng lượng và xử lý chất thải theo Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014.
  • Trái phiếu chính quyền địa phương: Công cụ nợ thị trường vốn gồm trái phiếu nghĩa vụ chung và trái phiếu nguồn thu nhằm tài trợ cho chi đầu tư phát triển dài hạn.
  • Khai thác giá trị đất đai: Kỹ thuật vốn hóa giá trị địa tô tăng thêm do các công trình hạ tầng công cộng mang lại để tái đầu tư ngân sách.
  • Định chế tài chính phát triển địa phương: Các quỹ đầu tư phát triển đô thị đóng vai trò trung gian tài chính và đòn bẩy tín dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (HFIC) cùng các báo cáo của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm 100% các chương trình hạ tầng trọng điểm của Thành phố trong giai đoạn 2006-2015, bao gồm 94 dự án ODA với tổng quy mô 115.447,66 tỷ đồng, 32 dự án PPP đã hoàn thành hoặc đang triển khai với tổng vốn 73.000 tỷ đồng, và danh mục 52 dự án PPP dự kiến giai đoạn 2016-2020.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm khảo sát toàn bộ các đợt phát hành trái phiếu đô thị đạt tổng giá trị 23.851 tỷ đồng và 18 khu đất đấu giá quyền sử dụng đất. Phương pháp phân tích số liệu kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng và mô hình hóa chuỗi số liệu tài khóa 10 năm. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan tương quan giữa tỷ lệ điều tiết ngân sách và năng lực chi đầu tư phát triển của địa phương theo dòng thời gian thực tế từ năm 1993 đến năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khả năng cân đối từ ngân sách địa phương và ODA cho hạ tầng kỹ thuật sụt giảm mạnh so với nhu cầu thực tế. Trong giai đoạn 2011-2015, ngân sách và ODA chỉ đáp ứng 32,75% nhu cầu, để lại mức thiếu hụt 267.522 tỷ đồng. Sang giai đoạn 2016-2020, tổng nhu cầu 4 chương trình đột phá hạ tầng là 654.645 tỷ đồng, trong khi nguồn lực dự kiến thu xếp chỉ đạt 273.751 tỷ đồng (đáp ứng 41,8%), tạo ra khoảng trống tài chính 380.894 tỷ đồng (tương đương 58,2%).

Thứ hai, tỷ lệ điều tiết ngân sách giữ lại cho Thành phố bị cắt giảm liên tục, làm suy giảm nguồn chi đầu tư phát triển. Tỷ lệ giữ lại giảm từ 33% năm 2003 xuống 29% giai đoạn 2004-2006, còn 26% giai đoạn 2007-2010 và chỉ còn 23% từ năm 2011 đến 2015. Hệ quả là tỷ lệ chi đầu tư phát triển so với tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giảm từ 12,9% năm 2006 xuống còn 9,4% năm 2015.

Thứ ba, sự kỳ vọng vào mô hình PPP vượt quá khả năng thực thi thực tế. Thành phố dự kiến huy động 179.660 tỷ đồng từ 52 dự án PPP giai đoạn 2016-2020, trong khi suốt 10 năm trước đó (2004-2014) chỉ thực hiện được 32 dự án với 73.000 tỷ đồng, chủ yếu là hình thức BOT và BT chiếm tới 87,5%.

Thứ tư, vai trò của các định chế tài chính chuyên biệt và công cụ đất đai chưa tương xứng tiềm năng. Nguồn vốn HFIC trực tiếp huy động giai đoạn 2010-2015 đạt 7.501 tỷ đồng, chỉ chiếm 0,75% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Thành phố. Nguồn thu từ tiền sử dụng đất năm 2010 chiếm 17% tổng thu ngân sách nhưng thiếu vắng các công cụ khai thác giá trị đất gia tăng không qua thu hồi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế phân cấp ngân sách cào bằng và quy định trần nợ vay địa phương khống chế ở mức 150% vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm, thay vì dựa trên hệ số an toàn trả nợ. Khung pháp lý PPP thiếu các điều kiện bảo lãnh rủi ro doanh thu và cơ chế tài chính rõ ràng, tương tự bài học thất bại của dự án 6.000 km đường bộ thu phí tại Mexico do chi phí xây dựng vượt gấp 2 lần dự toán.

Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy việc tạo lập các tài khoản thuế riêng từ xăng dầu và tải trọng xe (năm 2005 đạt 3.563,3 tỷ Yên cấp trung ương và 2.783,0 tỷ Yên chuyển giao cho địa phương) đã đảm bảo nguồn vốn bền vững. Thành phố Thượng Hải thu hơn 12 tỷ USD từ cho thuê đất và thành phố Bogota tại Colombia áp dụng thuế valorizacion thành công chứng minh rằng khai thác địa tô là chìa khóa tài chính đô thị.

Về mặt trực quan, dữ liệu chênh lệch cung cầu vốn có thể được trình bày bằng biểu đồ cột so sánh khả năng cân đối vốn giai đoạn 2011-2015 (32,75%) và giai đoạn 2016-2020 (41,8%), kết hợp bảng tổng hợp chuỗi tỷ lệ điều tiết ngân sách từ năm 2006 đến năm 2015 để làm rõ xu hướng suy giảm nguồn lực chi đầu tư phát triển.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội và Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù về phân cấp tài khóa cho Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ điều tiết ngân sách được giữ lại từ mức 23% lên khoảng 30% đến 40% trong chu kỳ ngân sách tiếp theo, giúp bổ sung từ 30.000 đến 60.000 tỷ đồng mỗi năm cho ngân sách địa phương. Đồng thời, cho phép Thành phố giữ lại 100% số thu vượt dự toán hàng năm (như khoản vượt thu 25.845 tỷ đồng năm 2014 và 21.000 tỷ đồng năm 2015) để phân bổ trực tiếp cho các công trình hạ tầng kỹ thuật trọng điểm. Cơ quan thực hiện: Ủy ban nhân dân Thành phố, Bộ Tài chính và Chính phủ, hoàn thành giai đoạn 2016-2018.

Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý trần nợ vay và mở rộng quy mô phát hành trái phiếu đô thị. Chuyển đổi căn cứ giới hạn vay nợ từ tỷ lệ 150% vốn đầu tư xây dựng cơ bản sang đánh giá hệ số thanh toán nợ dựa trên dòng tiền thu ngân sách theo thông lệ của Colombia và Hàn Quốc. Đặt mục tiêu nâng khối lượng phát hành trái phiếu chính quyền địa phương vượt mức 30.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2016-2020 với kỳ hạn dài từ 10 đến 15 năm. Cơ quan thực hiện: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố phối hợp Bộ Tài chính.

Thứ ba, hoàn thiện khung thể chế triển khai PPP và thiết lập quỹ bảo lãnh hạ tầng. Rà soát danh mục 52 dự án kêu gọi đầu tư 179.660 tỷ đồng, phân loại dự án có khả năng hoàn vốn thương mại rõ ràng; học tập mô hình Quỹ Bảo lãnh Hạ tầng IIGF của Indonesia để chia sẻ rủi ro pháp lý và giải phóng mặt bằng với nhà đầu tư tư nhân. Cơ quan thực hiện: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng.

Thứ tư, thể chế hóa các công cụ khai thác giá trị đất đai hiện đại. Nghiên cứu áp dụng thuế đánh vào giá trị tăng thêm của bất động sản dọc theo các trục giao thông lớn và nhân rộng mô hình bán đấu giá đất dôi dư tại biên chỉnh trang dự án (như trường hợp đường Nguyễn Hữu Thọ thu hồi sâu 75m, bán đấu giá thu 436 tỷ đồng bù đắp toàn bộ chi phí xây dựng 429 tỷ đồng). Cơ quan thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Quy hoạch Kiến trúc giai đoạn 2017-2020.

Thứ năm, nâng cao năng lực tài chính và tái cấu trúc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố (HFIC). Nâng vốn điều lệ và trao quyền huy động vốn vay quốc tế trực tiếp không qua bảo lãnh chính phủ (tương tự khoản vay từ Cơ quan Phát triển Pháp AFD), phấn đấu nâng tỷ trọng vốn HFIC cung ứng đạt từ 2% đến 3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Cơ quan thực hiện: Ủy ban nhân dân Thành phố và HFIC.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách công bao gồm Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các luận cứ thực nghiệm về tỷ lệ điều tiết 23% và khung chính sách trần nợ vay để xây dựng các đề án thí điểm cơ chế đặc thù phát triển đô thị quy mô lớn.

Thứ hai, các định chế tài chính phát triển, ngân hàng đầu tư và quỹ tài chính địa phương như HFIC, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Luận văn cung cấp phương pháp luận cấu trúc sản phẩm trái phiếu đô thị kỳ hạn 5 đến 15 năm và mô hình trung gian tín dụng theo kinh nghiệm của tổ chức FINDETER tại Colombia.

Thứ ba, các doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và bất động sản tham gia các dự án PPP, BOT, BT như Công ty Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật Thành phố (CII) và Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận (IPC). Doanh nghiệp có thể tham khảo phương pháp nhận diện 4 nhóm rủi ro hợp đồng và mô hình thu hồi vốn qua đấu giá quỹ đất mặt tiền.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị với khung phân tích 4 trụ cột tài trợ hạ tầng cùng hệ thống dữ liệu thứ cấp chuẩn xác kéo dài 10 năm từ 2006 đến 2015.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nguồn vốn ngân sách nhà nước vẫn giữ vai trò quyết định hàng đầu trong phát triển cơ sở hạ tầng?

Theo các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, khoảng 70% tổng vốn đầu tư hạ tầng toàn cầu đến từ khu vực công. Hạ tầng kỹ thuật mang tính chất hàng hóa công cộng với vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi dài, do đó các nguồn thu từ thuế và ngân sách là nền tảng bền vững nhất để đảm bảo an sinh xã hội.

Tỷ lệ điều tiết ngân sách 23% gây ra những khó khăn cụ thể nào cho hạ tầng Thành phố Hồ Chí Minh?

Tỷ lệ giữ lại 23% khiến quy mô chi đầu tư phát triển giai đoạn 2011-2015 chỉ đạt 105.657 tỷ đồng, tạo ra mức thiếu hụt 67,25% so với tổng nhu cầu vốn. Điều này trực tiếp kéo giảm tỷ lệ chi đầu tư so với tổng thu ngân sách trên địa bàn từ 12,9% năm 2006 xuống 9,4% năm 2015.

Kỹ thuật tài trợ dựa vào đất đai nào đã được Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng thành công nhất?

Đó là mô hình bán đấu giá đất dôi dư tại dự án đường Nguyễn Hữu Thọ. Thành phố đã thu hồi đất sâu 75m mỗi bên đường với diện tích 87 ha, tổ chức bán đấu giá thu về 436 tỷ đồng, đủ bù đắp toàn bộ chi phí xây dựng 429 tỷ đồng và tạo ra 15 ha đất tái định cư.

Cần điều kiện gì để triển khai thành công 52 dự án PPP giai đoạn 2016-2020?

Thành phố cần hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, thành lập quỹ bảo lãnh rủi ro hợp đồng như mô hình IIGF của Indonesia, đồng thời đánh giá chính xác nhu cầu lưu lượng vận tải nhằm tránh tình trạng chi phí vượt gấp 2 lần dự toán như kinh nghiệm từ Mexico.

Trái phiếu chính quyền địa phương đóng góp thế nào vào cơ cấu vốn của Thành phố?

Từ năm 2003 đến 2015, Thành phố đã phát hành thành công 23.851 tỷ đồng trái phiếu đô thị với kỳ hạn 5 đến 15 năm, hoàn trả gốc lãi đúng hạn 100%. Đây là kênh huy động vốn nhàn rỗi hiệu quả nhưng cần được nới lỏng trần nợ vay 150% để mở rộng quy mô.

Kết luận

  • Vốn ngân sách và các nguồn có tính chất ngân sách giữ vai trò nòng cốt, mang tính nền tảng quyết định trong phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị.
  • Tỷ lệ điều tiết ngân sách để lại 23% là nút thắt thể chế lớn nhất khiến Thành phố đối mặt với khoản thiếu hụt 380.894 tỷ đồng trong giai đoạn 2016-2020.
  • Mô hình PPP chỉ là nguồn tài chính bổ sung và cần được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế quản trị rủi ro để đảm bảo tính khả thi cho danh mục 52 dự án trị giá 179.660 tỷ đồng.
  • Khai thác giá trị đất đai phi thu hồi và phát hành trái phiếu đô thị là hai công cụ đòn bẩy tài chính chiến lược cần sớm được thể chế hóa bằng các khung thuế và hạn mức nợ hiện đại.
  • Nâng cao năng lực và trao quyền tự chủ thực chất cho các định chế trung gian như HFIC là điều kiện tiên quyết để tăng tỷ trọng đóng góp vượt mức 0,75% hiện nay.

Luận văn đã đóng góp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc và khung phân tích thực nghiệm toàn diện cho chính sách tài chính đô thị tại Việt Nam. Việc trung ương sớm phê duyệt cơ chế phân cấp tài khóa đặc thù trong giai đoạn 2016-2020 là bước đi sống còn để Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8% đến 8,5%/năm, khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế của cả nước.