Luận văn thạc sĩ về huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng ở TP.HCM: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng tại TP Hồ Chí Minh qua kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn địa phương.

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM TẠ

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Bối cảnh chính sách

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích

1.6. Cấu trúc luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG

2.1. Tổng quan về CSHT và nguồn vốn phát triển CSHT

2.2. Khái niệm cơ sở hạ tầng

2.3. Nguồn vốn phát triển CSHT

2.4. Các phương thức huy động vốn phát triển CSHT

2.4.1. Sử dụng vốn ngân sách

2.4.2. Sự tham gia của tư nhân

2.4.3. Các kỹ thuật tài trợ dựa vào đất đai

2.4.4. Thông qua các định chế tài chính chuyên biệt

2.4.5. Khung phân tích

3. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG

3.1. Kinh nghiệm thế giới về triển khai các phương thức huy động vốn phát triển CSHT

3.1.1. Sử dụng vốn ngân sách

3.1.2. Sự tham gia của tư nhân

3.1.3. Tài trợ dựa vào đất đai

3.1.4. Thông qua các định chế tài chính chuyên biệt

3.2. Nhận xét và các bài học rút ra về huy động vốn phát triển CSHT

4. CHƯƠNG 4: THỰC TIỄN HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ BẤT CẬP TRONG VIỆC HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Thực tiễn huy động vốn phát triển CSHT của Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng trong thời gian qua

4.2. Tổng quan về huy động vốn phát triển CSHT của Việt Nam thời gian qua

4.3. Tổng quan về tình hình đầu tư CSHT tại TP.HCM thời gian qua

4.4. Những bất cập trong việc huy động vốn phát triển CSHT của TP.HCM thời gian qua

4.4.1. Các quy định về phân bổ, điều tiết ngân sách của TP.HCM và trung ương, giới hạn trần nợ vay của CQĐP chưa tạo động lực để phát triển Thành phố

4.4.2. Kỳ vọng vào mô hình PPP quá lớn trong khi các điều kiện cần thiết để triển khai thành công mô hình PPP chưa được chuẩn bị đầy đủ; chưa có các quy định rõ ràng về phân cấp nguồn thu từ tư nhân hóa

4.4.3. TP.HCM chưa được trao các cơ chế phù hợp cũng như hệ thống quản lý hành chính chưa đủ năng lực để triển khai các kỹ thuật khai thác giá trị đất đai mới theo kinh nghiệm thế giới, đặc biệt là các kỹ thuật không cần thu hồi đất

4.4.4. Các tổ chức trung gian để thúc đẩy huy động vốn phát triển CSHT của TP.HCM chưa phát huy được vai trò như kỳ vọng

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

5.1. Đề xuất kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng tại TP

Huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) tại TP.HCM đang trở thành một vấn đề cấp bách. Thành phố đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng do quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Để giải quyết vấn đề này, việc tìm hiểu các phương thức huy động vốn hiệu quả từ kinh nghiệm quốc tế là rất cần thiết.

1.1. Định nghĩa và vai trò của cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng được định nghĩa là hệ thống các công trình xây dựng phục vụ cho hoạt động của xã hội. Vai trò của CSHT không chỉ là nền tảng cho phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.

1.2. Tình hình hiện tại của cơ sở hạ tầng tại TP.HCM

Mặc dù TP.HCM có nhiều dự án hạ tầng lớn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề như kẹt xe, ngập úng và hạ tầng giao thông chưa đồng bộ. Điều này đòi hỏi một nguồn vốn lớn để cải thiện và phát triển.

II. Những thách thức trong huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng tại TP

Việc huy động vốn cho phát triển CSHT tại TP.HCM gặp nhiều khó khăn. Các quy định về ngân sách và điều tiết tài chính chưa tạo động lực cho sự phát triển. Hơn nữa, kỳ vọng vào mô hình đối tác công - tư (PPP) chưa được thực hiện hiệu quả.

2.1. Các quy định ngân sách chưa phù hợp

Các quy định hiện tại về phân bổ ngân sách giữa trung ương và TP.HCM chưa tạo ra động lực cần thiết cho sự phát triển bền vững của thành phố.

2.2. Kỳ vọng vào mô hình PPP

Mô hình PPP được kỳ vọng sẽ là giải pháp huy động vốn hiệu quả, nhưng thực tế cho thấy nhiều điều kiện cần thiết để triển khai thành công chưa được chuẩn bị đầy đủ.

III. Phương pháp huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng hiệu quả

Để cải thiện tình hình huy động vốn, TP.HCM cần áp dụng các phương pháp huy động vốn hiệu quả từ kinh nghiệm quốc tế. Các mô hình như phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và hợp tác công - tư cần được xem xét kỹ lưỡng.

3.1. Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương

Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương là một trong những phương thức huy động vốn hiệu quả, giúp tăng cường nguồn lực tài chính cho các dự án hạ tầng.

3.2. Hợp tác công tư PPP

Mô hình PPP có thể giúp huy động vốn từ khu vực tư nhân, nhưng cần có các quy định rõ ràng và cơ chế quản lý hiệu quả để đảm bảo thành công.

IV. Kinh nghiệm quốc tế trong huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng

Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng thành công các phương thức huy động vốn cho phát triển CSHT. Việc học hỏi từ những kinh nghiệm này sẽ giúp TP.HCM tìm ra giải pháp phù hợp.

4.1. Kinh nghiệm từ các nước phát triển

Các nước phát triển như Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những mô hình huy động vốn hiệu quả, từ đó TP.HCM có thể rút ra bài học cho riêng mình.

4.2. Các mô hình huy động vốn sáng tạo

Nhiều quốc gia đã áp dụng các mô hình huy động vốn sáng tạo như tài trợ dựa vào đất đai, giúp tăng cường nguồn lực cho phát triển CSHT.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại TP

Việc áp dụng các phương thức huy động vốn từ kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn tại TP.HCM đã cho thấy những kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều cải cách để tối ưu hóa hiệu quả.

5.1. Kết quả từ các dự án thí điểm

Một số dự án thí điểm đã được triển khai thành công, cho thấy tiềm năng của các phương thức huy động vốn mới.

5.2. Đề xuất cải cách trong huy động vốn

Cần có các đề xuất cải cách trong quy định và chính sách để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động vốn phát triển CSHT.

VI. Kết luận và hướng đi tương lai cho huy động vốn tại TP

Huy động vốn phát triển CSHT tại TP.HCM cần có những bước đi cụ thể và quyết liệt hơn. Việc học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế và cải cách chính sách sẽ là chìa khóa cho sự thành công.

6.1. Tầm quan trọng của nguồn vốn ngân sách

Nguồn vốn ngân sách vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển CSHT, cần được tăng cường và sử dụng hiệu quả.

6.2. Tương lai của huy động vốn tại TP.HCM

TP.HCM cần có một chiến lược dài hạn để huy động vốn, đảm bảo phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu của người dân.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh việc huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng ở thành phố hồ chí minh nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại địa phương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 giới thiệu bối cảnh, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về các phương thức huy động vốn phát triển CSHT. Chương 3 nghiên cứu kinh nghiệm thế giới về huy động vốn phát triển CSHT để rút ra các nhận xét về hiệu quả và vai trò của các nguồn vốn đối với việc phát triển CSHT cũng như các vấn đề cần lưu ý khi triển khai thực hiện các phương thức huy động vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 4 nghiên cứu thực tiễn huy động vốn phát triển CSHT tại Việt Nam và những vấn đề bất cập trong huy động vốn phát triển CSHT của TP.

Chương 5 là phần kết luận và đưa ra các khuyến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG 2. Tổng quan về CSHT và nguồn vốn phát triển CSHT 2. Khái niệm cơ sở hạ tầng Fulmer (2009) đã đưa ra định nghĩa CSHT là "các thành phần vật chất của hệ thống tương quan cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu để kích hoạt, duy trì hoặc tăng cường điều kiện sống của xã hội".

Đây là định nghĩa được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến CSHT. Ở Việt Nam, thuật ngữ CSHT còn được gọi là kết cấu hạ tầng, là hệ thống các công trình xây dựng làm nền tảng cho mọi hoạt động của xã hội, bao gồm hai hệ thống: hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Theo Điều 3, Luật Xây dựng 2014, "hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và các công trình khác"; "hệ thống hạ tầng xã hội bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, và các công trình khác". Do giới hạn về các điều kiện nghiên cứu, luận văn chủ yếu tập trung tìm hiểu, phân tích các phương thức huy động vốn đầu tư phát triển CSHT kỹ thuật.

Nguồn vốn phát triển CSHT Nguồn vốn phát triển CSHT được hiểu là nguồn tài chính để đầu tư xây dựng, vận hành và duy trì hệ thống CSHT; có đặc trưng cơ bản là đòi hỏi dòng tiền lớn duy trì trong nhiều năm, thời gian thu hồi vốn thường dài và tiềm ẩn nhiều rủi ro không thể thu hồi đủ vốn đầu tư cũng như nguy cơ hình thành tài sản khó thanh lý khi các điều kiện giả định ban đầu thay đổi (Phạm Thiên Hoàng, 2015). Bên cạnh đó, việc xây dựng CSHT lại thường yêu cầu phải giải tỏa, đền bù trên quy mô lớn, gây ảnh hưởng đến sinh kế của người dân và tạo ra ngoại tác có tính lan tỏa. Với các đặc tính đó, tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, chính quyền đóng vai trò nòng cốt, then chốt trong việc xây dựng một hệ thống CSHT đồng bộ, hiện đại. Tuy nhiên, thực tế, khu vực công thường không đủ khả năng và nguồn lực để cung cấp CSHT đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Xuất phát từ hai nguyên nhân trên, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu triển khai nhiều phương thức huy động vốn để tài trợ cho CSHT nói chung và CSHT địa phương nói riêng. Vốn đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển CSHT. Quy mô và tính sẵn có của nguồn vốn ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của từng dự án nói riêng cũng như góp phần quan trọng trong việc xây dựng hệ thống CSHT đồng bộ và hiện đại (Phạm Thiên Hoàng, 2015). Các phương thức huy động vốn phát triển CSHT Tùy theo đặc điểm, điều kiện, trình độ phát triển của mỗi quốc gia/ địa phương mà Chính phủ hoặc chính quyền địa phương (CQĐP) sẽ có các sáng kiến huy động nguồn vốn phát triển CSHT khác nhau.

Theo Sổ tay về tài chính CSHT đô thị (Kim, 2016), CSHT của các thành phố có thể được tài trợ hoàn toàn bởi khu vực công, có sự hỗ trợ từ phía các ngân hàng phát triển và tổ chức tài chính quốc tế hoặc tham gia của khu vực tư nhân. Nguồn vốn của khu vực công để đầu tư phát triển CSHT tại các thành phố chủ yếu là ngân sách địa phương (NSĐP) do chính quyền trung ương (CQTU) chuyển giao/ trợ cấp hoặc vay nợ thông qua phát hành trái phiếu. Nguồn vốn của tư nhân tham gia đầu tư phát triển CSHT thường bằng hình thức PPP hoặc tư nhân hóa. Trong nghiên cứu Giải phóng giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho CSHT đô thị, Peterson (2009) đã khẳng định CSHT đô thị thường được đầu tư từ ba nguồn truyền thống là: ngân sách của CQĐP, vốn tài trợ từ Chính phủ và vốn vay.

Để đáp ứng nhu cầu vốn phát triển CSHT, nghiên cứu đã giới thiệu thêm một giải pháp bổ sung quan trọng cho tài chính CSHT địa phương là khai thác giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho đầu tư CSHT. Trong Báo cáo của Viện Nghiên cứu phát triển (2010) về cơ chế tạo vốn cho các dự án giao thông trọng điểm, cấp bách của Thành phố, tác giả báo cáo phân chia thành ba nhóm hình thức như sau: (1) Hình thức tạo nguồn vốn trước khi xây dựng hạ tầng giao thông, gồm: huy động từ vốn ngân sách; huy động từ nguồn vốn vay ODA; huy động nguồn vốn theo hình thức BT – BOT; đầu tư theo hình thức phát hành trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị. (2) Hình thức tạo nguồn vốn sau khi xây dựng hạ tầng giao thông, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 gồm: tạo vốn ngân sách bằng đấu thầu (đấu giá) quyền sử dụng đất, hình thức "biên chỉnh trang", điều chỉnh tăng khung giá đất hàng năm tại địa bàn đã đầu tư hạ tầng. (3) Các hình thức huy động vốn mới gồm PPP và phí xây dựng công trình.

Nhìn chung, có nhiều cách phân loại và tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, có thể tổng hợp các nguồn và phương thức huy động vốn phát triển CSHT địa phương chủ yếu sau: (1) Sử dụng ngân sách để đầu tư CSHT, chủ yếu từ nguồn doanh thu thuế, các khoản phân bổ/chuyển giao/trợ cấp của CQTU cho CQĐP và có thể được bổ sung thông qua vay nợ của CQĐP (thông qua phát hành TPCQĐP; vay tín dụng ưu đãi từ các ngân hàng phát triển hoặc tổ chức tài chính quốc tế). (2) Sự tham gia của tư nhân: chủ yếu thông qua PPP hoặc tư nhân hóa. (3) Các kỹ thuật tài trợ dựa vào đất đai; (4) Thông qua một số mô hình chuyên biệt. Sử dụng vốn ngân sách * Thuế và các khoản phân bổ/ chuyển giao/ trợ cấp ngân sách giữa trung ương và địa phương Vấn đề sử dụng ngân sách cho phát triển CSHT địa phương có liên quan mật thiết với cơ chế phân cấp tài khóa và chuyển giao nguồn lực giữa CQTU và CQĐP.

Tiếp nhận các nguồn chuyển giao, trợ cấp của CQTU là một nguồn truyến thống bổ sung vào NSĐP. Tùy vào mỗi quốc gia mà sẽ có cách phân chia và chuyển giao các nguồn thu khác nhau, chủ yếu từ các loại thuế. Thông thường, CQTU sẽ có quy định những khoảng thu nào thuộc NSTU, những khoản thu nào địa phương được giữ lại và/hoặc xác định tỷ lệ phân chia, chuyển giao cụ thể đối với từng loại thuế/ phí/ hoặc doanh thu thuế chung giữa trung ương và địa phương. * Vay nợ của CQĐP chủ yếu thông qua phát hành TPCQĐP hoặc vay tín dụng ưu đãi từ các ngân hàng phát triển hoặc tổ chức tài chính quốc tế: - TPCQĐP hay còn được gọi là trái phiếu đô thị (TPĐT) là một bộ phận của thị trường vốn, được định nghĩa là “nghĩa vụ nợ có trả lãi suất do các cấp CQĐP phát hành để tài trợ (chủ yếu) cho chi đầu tư” (FETP, 2015a).

Trên thế giới, TPĐT thường được phân thành bốn loại là trái phiếu nghĩa vụ chung (GO), trái phiếu nguồn thu (Revenue Bonds), trái phiếu hai nòng (Double - Barreled Bonds) và các công cụ nợ thị trường vốn của địa phương khác (FETP, 2015a), trong đó hai loại đầu tiên là phổ biến nhất. Trái phiếu nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vụ chung là loại TPCQĐP được CQĐP đảm bảo cả tiền gốc và tiền lãi bằng toàn bộ các nguồn thu tài chính của mình. Trái phiếu nguồn thu là loại TPCQĐP được phát hành để hỗ trợ cho một dự án hay khoản đầu tư cụ thể có tạo ra nguồn thu, cả lãi và nợ gốc được chi trả từ thu nhập được tạo ra bởi công trình mà đợt trái phiếu đó tài trợ. TPCQĐP là một công cụ tài trợ vốn có nhiều tiềm năng và ưu điểm vì có kỳ hạn phổ biến từ 05 đến 15 năm nên đáp ứng nhu cầu tài trợ dài hạn của địa phương, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tạo ra sức ép và động lực để CQĐP cải tiến công tác quản lý ngân sách do áp lực phải hoàn trả tiền gốc và lãi cho các nhà đầu tư đúng hạn, kiểm toán và minh bạch thông tin, góp phần từng bước phát triển thị trường vốn và ổn định tài chính ở địa phương (FETP, 2015a).

Tuy nhiên, nếu CQĐP thiếu năng lực, hệ thống tài chính chưa phát triển, các công cụ tài trợ vốn không đồng bộ và các khuôn khổ thể chế pháp lý không rõ ràng thì việc phát hành trái phiếu sẽ gặp nhiều khó khăn, không hiệu quả. Bên cạnh đó, vì phát hành trái phiếu là một hình thức vay nợ, nên nếu lạm dụng sẽ dẫn đến gia tăng tổng nợ công của cả nền kinh tế và có thể vượt quá khả năng kiểm soát của CQTU dẫn đến vỡ nợ (FETP, 2015a). - Vay tín dụng ưu đãi từ các ngân hàng phát triển hoặc tổ chức tài chính quốc tế. Tùy theo quy định của mỗi nước mà các địa phương có thể tiếp cận trực tiếp các khoản vay ưu đãi này hoặc vay lại từ Chính phủ.

Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các khoản tín dụng ưu đãi phải được hoàn trả bằng nguồn vốn ngân sách (Phạm Thiên Hoàng, 2015). ODA và các khoản tín dụng ưu đãi khác nếu được quản lý và sử dụng hiệu quả sẽ là một nguồn vốn bổ sung vào ngân sách của CQĐP để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; phù hợp với các dự án CSHT không có nguồn thu hoặc khả năng thu hồi vốn chậm, mức sinh lời thấp (Phạm Thị Túy, 2009).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ