LỜI MỞ ĐẦU: Những năm gần đây,nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển biến và có nhiều dấu hiệu khởi sắc. môi trường kinh doanh trong nước thuận lợi không những thu hút được nhiều nhà đầu tư nươc ngoài mà còn tào đà khôi phục và thúc đẩy nhiều nhà đầu tư trong nước giúp nền kinh tế trong nước ngày càng sôi nổi mạnh mẽ. Nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội đất nước trong giai doạn hiện nay, nhiệm vụ đặt ra là phải tăng cường huy động mọi nguồn lực trong nước và mọi nguồn lực từ nước ngoài để đầu tư phát triển.Trong giai đoạn 2000 khối lượng vốn đầu tư được huy động đều tăng qua các năm đã giải quyết được phần nào nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển.Để đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững cả về số lượng và chất lượng, đồng thời hạn chế đến mức tối đa sự phụ thuộc bên ngoài .Chúng ta cần huy động nguồn lực trong nước.Nguồn vốn này bao gồm: vốn đầu tư của nhà nước, vốn đâu tư của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu như nguồn vốn nhà nước chủ yếu được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và dùng để thu hút các nguồn vốn khác, thì vốn khu vực kinh tế tư nhân góp phần quyết định vào sự gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Trong những năm qua, hoạt động huy động vốn khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư phát triển đã thu được những kết quả nhất định.Vai trò của khu vực này đối với sự tăng trưởng của kinh tế là không thể phủ nhận. Tuy nhiên bên cạnh những điều đã đạt được vẫn tồn tại những vấn đề phải quan tâm,trong đó phải kể đến hiện tượng vốn còn nhưng lại không huy động được, trong khi đó nền kinh tế đất nước thì đang cần vốn để phát triển. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu kinh tế thì hiện nay ở việt nam còn khoảng 30.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và trên 40.000 tỷ đồng tiền tiết kiệm của dân cư chưa được huy động, Có thể nói đây là một khối lượng vốn không phải là nhỏ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi này? Đây là một câu hỏi lớn không những đối với các nhà làm chính sách mà còn với tất cả mọi thành viên quan tâm tới nền kinh tế.
Vì vậy, để góp phần vào việc lý giải câu hỏi trên thì chúng ta cần phải hiểu rõ thực trạng,hạn chế,và những nguyên nhân của vấn đề, em đi vào nghiên cứu đề tài: “ Huy động vốn đầu tư khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư phát triển ở việt nam”. 1 Nội dung đề tài gồm có 3 phần lớn: Phần I: Những vấn đề chung về nguồn vốn đầu tư phát triển Phần II: Huy động vốn khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư phát triển Phần III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động huy động vốn khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư phát triển Mỗi phần sẽ được chia thành các mục khác nhau để có thể tiếp cận đến vấn đề một cách cụ thể, qua đó chúng ta có thể thấy được những mặt được và chưa được trong hoạt động huy động vốn khu vực kinh tế tư nhân hiện nay để từ đó có những biện pháp góp phần đảy mạnh hoạt động huy động vốn trong khu vực này. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn,cô giáo Nguyễn Thị Ái Liên, các bạn đã có những góp ý quý báu về nội dung của đề tài giúp em hoàn thiẹn tốt bản đề án này. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót em rất mong tiếp tục nhận được những góp ý,bổ sung của các thầy cô và các bạn.
B- PHẦN NỘI DUNG CHÍNH: PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Hịên nay, nguồn vốn đầu tư đóng góp khoảng 50%-55% tăng trưởng kinh tế hằng năm. Bởi vậy huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội là vấn đề rất quan trọng. Thế nhưng để thực hiện tốt điều đó thì chúng ta phải đi sâu vào nghiên cứu từng nội dung của vấn đề này. KHÁI NIỆM,BẢN CHẤT,VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ.
Khái niệm: Nguồn vốn dầu tư chính là phần tích luỹ của xã hội,của các cơ sở sản xuất,kinh doanh dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Ở tầm vi mô vốn đầu tư bao gồm của các đơn vị phi lợi nhuận, tổ chức ngoài quốc doanh,tổ chức quốc doanh. Bản chất của nguồn vốn đầu tư 2 Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế học chính trị Mác- Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
Theo kinh tế học cổ điện: Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc”(1776),Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định:”tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn.Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm.Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”. Theo kinh tế học Mác: Với giả định về một nền kinh tế đóng,khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội,về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến tích luỹ, C.Mác đẫ chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực: Khu vực I: sản xuất tư liệu sản xuất Khu vực II: sản xuất tư liệu tiêu dùng Tổng giá trị của từng khu vực đều bằng : C+V+M trong đó: C: phần tiêu hao vạt chất V+M: là phần giá trị mới sáng tạo Để đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng diễn ra liên tục thì : (V+M)I >=CII hay (C+V+M)I > CI+CII Tức là tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không những đủ bồi hoàn cho những tiêu hao vật chất CI và CII ở cả hai khu vực mà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.Đối với khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng thì : (C+V+M)II >(V+M)I+(V+M)II Tiêu dùng do khu vực II tạo ra phải đảm bảo tiêu dùng ở cả hai khu vực và phải có dư thừa để đáp ứng nhu cầu tư liệu tiêu dùng tăng thêm do quy mô sản xuất tăng thêm. Để có tư liệu sản xuất dư thừa cần phải tăng cường sản xuất ở khu vực I.Đồng thời phải sử dụng tiết kiệm ở cả hai khu vực.Để có tư liệu tiêu dùng dư thừa thì phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II và tiết kiệm ở cả hai khu vực .Như vậy, để đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng thì phải tiết kiệm ở cả hai khu vực. 3 Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng.
Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sụ gia tăng sản xuât và tích luỹ của nền kinh tế. Theo kinh tế học hiện đại: 2. Đối với nền kinh tế đóng Trong tác phẩm nổi tiếng “ lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynad Keynes đã chứng minh được rằng : Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng: Ta có : GDP=C+I Trong đó : GDP: Tổng sản phẩm quốc nội C: Tiêu dùng của nhân dân và của chính phủ I: Tiêu dùng của doanh nghiệp(đầu tư) Trong nền kinh tế đóng thì đầu tư của doanh nghiệp cũng chính là phần mà doanh nghiệp tiết kiệm được.
Như vậy: GDP=C+S Trong đó : S: Lá phần tiết kiệm của doanh nghiệp Khi GDP tăng làm cho C+I hoặc C+S cũng tăng theo và đầu tư tăng càng nhiều thì sản xuất càng tăng mạnh.2 Đối với nền kinh tế mở Ta có : GDP=C+I+X-IM Trong đó: X:Giá trị hàng xuất khẩu IM: Giá trị hàng nhập khẩu Theo trên thì GDP= C+S => S=I+X-IM =>I=S+M+X Hay I=S+F với F=IM-X tiền đầu tư từ nước ngoài và I:Đầu tư của đất nước S: Tiết kiệm trong nước 4 Theo đó quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế mở nguồn vốn được sử dụng để đầu tư bao gồm cả tiền tiết kiệm được trong nước và tiền huy động từ nước ngoài nếu như nguồn tiết kiệm trong nước không đáp ứng đủ.Phân loại nguồn vốn đầu tư Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.Nguồn vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích luỹ của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư,các tổ chức kinh tế,các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuấ xã hội. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước một vấn đề khó khăn đặt ra đó là sự thiếu vốn để đầu tư. Để đảm bảo vừa có thể đẩy nhanh tốc dộ tăng trưởng kinh tế,vừa tránh được sự lệ thuộc vào bên ngoài chúng ta cần phải tận dụng và phát huy mọi nguồn lực trong nước.Nguồn vốn trong nước được huy động cho đầu tư phát triển hiện nay bao gồm: Vốn tín dụng ngân sách nhà nước Vốn tín dụng Nguồn vốn của doanh nghiệp Nhà nước Nguồn vốn của khu vực kinh tế tư nhân Bên cạnh việc đẩy mạnh huy động nguồn nội lực thì Đảng và Nhà nước ta cũng tiến hành mở rộng hợp tác quốc tế để tranh thủ sự giúp đỡ,ủng hộ của bên ngoài,góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.Phấn đấu đến năm 2000 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Với mục tiêu này và chủ trương hội nhập nền kinh tế đát nước.
Ngày 22/6/1994,Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam( khoá IX, kỳ họp thứ 5) đã ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước.