CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1. Nguồn vốn của NHTM Theo sự phát triển trong lĩnh vực ngân hàng hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp tại các quốc gia, gồm Ngân hàng trung ương và các NHTM, chức năng huy động và cung cấp vốn trực tiếp cho các chủ thể trong nền kinh tế được thực hiện chủ yếu bởi các NHTM. Xét theo nguồn gốc hình thành, nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM gồm: a.
Vốn chủ sở hữu Vốn thuộc sở hữu của ngân hàng là vốn của ngân hàng, là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập và thuộc sở hữu của ngân hàng. Trong nền kinh tế nước ta ngày nay các ngân hàng thương mại xét theo hình thức sở hữu bao gồm: NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh, NHTM 100% vốn nước ngoài. NHTM Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thì do ngân sách Nhà nước cấp, nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn do cá nhân bỏ ra, nếu là ngân hàng cổ phần thì do cổ đông góp, nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp.
Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ và vốn bổ sung trong quá trình hoạt động. Vốn điều lệ là vốn do các cổ đông góp và được ghi trong điều lệ hoạt động của ngân hàng và theo qui định tối thiểu bằng vốn pháp định. Theo Nghị Luan van 7 định số 141/2006//NĐ-CP ngày 22.2006 mức vốn pháp định của các NHTM phải đạt mức tối thiểu là 3000 tỷ đồng. Vốn bổ sung gồm: thứ nhất là Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm theo một tỷ lệ nhất định nhằm tăng cường vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Thứ hai là Quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Thứ ba là các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng như lợi nhuận chưa phân bổ hoặc các quỹ nghiệp vụ khác như quỹ phúc lợi, khen thưởng, khấu hao, quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng…. Đặc điểm của nguồn vốn này là rất ổn định, chức năng chủ yếu của vốn chủ sở hữu bao gồm chức năng bảo vệ, chức năng hoạt động và chức năng điều chỉnh. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng vì nó cho thấy thực lực, quy mô của ngân hàng và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng.
Các khoản nợ phải trả, bao gồm: - Vốn huy động dưới hình thức nhận tiền gửi: bao gồm các khoản vốn huy động dưới các hình thức tiền gửi khác nhau và phát hành giấy tờ có gía. - Vốn huy động dưới hình thức các khoản vay phi tiền gửi: Vốn đi vay là khoản vốn mà NHTM vay để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi NH đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ hoạt động vốn, hay nói cách khác NH tạm thời thiếu vốn khả dụng. Vốn đi vay thường chiếm một tỷ trọng nhất định trong kết cấu nguồn vốn của NHTM nhưng rất cần thiết và có vai trò quan trọng đảm bảo cho NH hoạt động kinh doanh một cách bình thường. Vốn đi vay thể hiện quan hệ vay mượn giữa NHTM với Ngân hàng Nhà nước, hoặc vay vốn giữa NHTM với nhau hay vay các tổ chức trong và Luan van 8 ngoài nước.
Tùy theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay NHTM với Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức: Thứ nhất: những khoản vay ngắn hạn các NHTM vay Ngân hàng Nhà nước để giải quyết nhu cầu chi trả hàng ngày và thường được hoàn trả trong một ngày giao dịch. Thứ hai: những khoản tiền mà ngân hàng Nhà nước cho NHTM vay theo nhu cầu thời vụ. Thứ ba: những khoản tiền vay mà NHTM vay từ Ngân hàng Nhà nước khi gặp khó khăn về khả năng thanh toán do những thay đổi lớn theo hướng bất lợi làm xảy ra hiện tượng rút tiền một cách ồ ạt mà bản thân ngân hàng không thể đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời bằng các biện pháp thông thường. Trong những trường hợp này, Ngân hàng Nhà nước có thể hỗ trợ tài chính cho các NHTM dưới hai hình thức là cho vay chiết khấu và cho vay tái cấp vốn.
Vay các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường liên ngân hàng: trong trường hợp phải đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách nhằm bổ sung hoặc thay thế nguồn vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước, NHTM buộc phải vay mượn lẫn nhau và vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Khi đó, lãi suất mà NHTM phải chấp nhận thường cao hơn lãi suất huy động từ những nguồn khác. Khoản vay đó có thể được đảm bảo hoặc không đảm bảo. NHTM chỉ được vay nước ngoài nếu có bảo lãnh, đồng thời phải chịu sự kiểm soát về hạn mức vay cũng như thời hạn vay của Ngân hàng Nhà nước.
Luan van 9 - Các khoản nợ khác: Nguồn ủy thác đầu tư: đây là những nguồn vốn mà NHTM được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, chính phủ như Ngân hàng thế giới ( WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)… tài trợ các chương trình, dự án chỉ định với mục tiêu riêng như phát triển nông thôn, cơ sở hạ tầng ưu tiên… Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả vốn này khi đến hạn. Nguồn trong thanh toán: có thể hình thành từ các nguồn vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi séc bảo chi, các nguồn tiền ngân hàng phong tỏa… Ngoài ra, các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng như làm đại lý, dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán… Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả… 1. Các hình thức huy động vốn từ dân cư của NHTM Huy động vốn từ dân cư là hoạt động huy động vốn từ các cá nhân và hộ gia đình hoặc các tổ chức không phải là doanh nghiệp dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Xu hướng chung là các NH cung cấp một danh mục ngày càng đa dạng các hình thức cho khách hàng lựa chọn.
Vì vậy, khó có thể liệt kê chi tiết tất cả các loại, tuy nhiên về phương diện nghiên cứu, các hình thức sau đây là chủ yếu: a. Tiền gửi thanh toán cá nhân Tiền gửi thanh toán là một loại tiền gửi không kỳ hạn dùng cho mục đích thanh toán, nên trong hạch toán kế toán của các NHTM Việt nam nó được phân loại thành tài khoản tiền gửi không kỳ hạn. Luan van 10 Một là, Tiền gửi không kỳ hạn là loại tài sản Nợ hình thành khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng vì các nhu cầu giao dịch, NHTM sẽ mở cho khách hàng một tài khoản ghi rõ số tiền mà họ gửi và nhờ đó khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng chi trả cho bên thứ ba hoặc lĩnh tiền mặt ở bất kỳ thời điểm nào. Tiền gửi không kỳ hạn có thể là: tiền gửi có thể phát hành séc; tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng thực hiện qua máy rút tiền ATM, các thiết bị EDC tại quầy hoặc POS.
Mỗi khách hàng có thể mở một hoặc nhiều tài khoản tiền gửi ở một hay nhiều nơi tùy theo nhu cầu sử dụng, trừ trường hợp có qui định khác. Một số ngân hàng yêu cầu khách hàng phải duy trì một số dư tối thiểu để hưởng các dịch vụ ngân hàng, nếu không đủ số dư này thì khách hàng phải trả phí cho ngân hàng. Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn huy động với chi phí thấp nhất và tăng phí dịch vụ cho ngân hàng, giúp ngân hàng duy trì các nhu cầu giao dịch. Mặt khác, việc thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi ngân hàng tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, thực hiện văn minh và giảm thiểu rủi ro trong thanh toán.
Tuy nhiên nguồn vốn này có nhược điểm là khó kiểm soát, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không có kế hoạch trước, dễ làm cho ngân hàng bị động về nguồn vốn nếu có những biến động lớn. Để huy động tốt nguồn vốn rẻ này ngân hàng thường xuyên đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ và giá cả dịch vụ để hấp dẫn khách hàng. Hai là, Tiền gửi có kỳ hạn là một hình thức dành cho các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân có thể dự kiến được thời gian chưa sử dụng, giúp cho khách hàng có mức sinh lời cao hơn tiền gửi không kỳ hạn đồng thời dễ dàng đáp ứng khả năng thanh khoản. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn vào kinh doanh.Các ngân hàng luôn tìm cách đa dạng hóa loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với các mức lãi suất khác Luan van 11 nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm Tiết kiệm là hình thức huy động truyền thống được các ngân hàng thương mại áp dụng từ lâu. Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng vào tiêu dùng. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền an toàn và hưởng lãi từ số tiền đó vì nhu cầu tiết kiệm chi dùng trong tương lai. Thực tế ngân hàng huy động tiền gửi tiết kiệm dưới hai hình thức: Một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: đây là khoản tiền gửi có thể rút tùy theo yêu cầu không cần báo trước.
Với thể thức này khách hàng được sử dụng các dịch vụ và các tiện ích của ngân hàng như thanh toán qua ngân hàng và các dịch vụ thông tin tài khoản qua Phonebanking, Internetbanking…. Hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền có sự thỏa thuận về thời hạn gửi chỉ được rút ra sau một thời gian nhất định, có mức lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.