Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động tiền gửi tiết kiệm qua tổ TK&VV tại Ngân hàng Chính sách xã hội; Chương 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tiết kiệm qua tổ TK&VV của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quản Bạ; Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tiền gửi tiết kiệm qua tổ TK&VV của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quản Bạ 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM QUA TỔ TIẾT KIỆM VÀ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Giới thiệu về Ngân hàng chính sách xã hội và tổ tiết kiệm và vay vốn 1. Ngân hàng chính sách xã hội a) Khái niệm “Ngân hàng chính sách là ngân hàng của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà phục vụ cho các đối tượng khách hàng theo chính sách ưu tiên của Nhà nước” (Theo ILO, 2015). Ngân hàng Chính sách xã hội là tổ chức tín dụng thuộc Chính phủ Việt Nam.
Khác với ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước cấp, giao vốn và đảm bảo khả năng thanh toán, huy động vốn có trả lãi hoặc tự nguyện không lấy lãi, vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả, vốn nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đê ủy thác trực tiếp cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; các đối tượng cần vay vốn giải quyết việc làm; các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các đối tượng chính sách khác NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước, thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ, nghiệp vụ ngoại hối, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế. NHCSXH có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trên phạm vi cả nước, có mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch ở các địa phương. - Chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng chính sách xã hội + Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. + Hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận, 8 được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
+ Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính trị – xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội. + Ngân hàng Chính sách xã hội là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. b) Đặc điểm của ngân hàng chính sách xã hội + Đặc điểm về mô hình tổ chức: NHCSXH là một loại hình ngân hàng đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do đó mô hình tổ chức của nó cũng có những đặc điểm riêng. Đối tượng phục vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội là những khách hàng do Chính phủ chỉ định theo chính sách từng thời kỳ.
Đây là những khách hàng không có điều kiện tiếp cận với các tổ chức tín dụng thông thường; nói cách khác là các khách hàng phi thương mại không đủ điều kiện vay vốn của các ngân hàng thương mại. Loại hình Ngân hàng chính sách xã hội chủ yếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, sử dụng một phần nguồn tài chính của Nhà nước tham gia hỗ trợ cho các ngành, các khu vực. Vì vậy, mô hình tổ chức quản lý của loại hình Ngân hàng này phải có sự hiện diện của một số cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan để tham gia quản trị ngân hàng, hoạch định các chính sách tạo lập nguồn vốn, chính sách đầu tư đối với các khu vực, các đối tượng trong từng thời kỳ cho NHCSXH. 9 Tại cấp Trung ương: Hội đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội, ngoài những thành viên chuyên trách, còn có các thành viên kiêm nhiệm là đại diện có thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội.
Tại địa phương: Bên cạnh bộ phận tác nghiệp chuyên trách của Ngân hàng chính sách xã hội cũng còn có sự tham gia của chính quyền địa phương (gồm cả chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) Tại cấp cơ sở: chính quyền cùng với các tổ chức chính trị - xã hội, thiết lập các Tổ vay vốn gồm các đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn ở các thôn, bản tự nguyện hoạt động theo thoả ước tập thể, có trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay. + Đặc điểm về cơ chế hoạt động: Về mục tiêu hoạt động: Khách hàng của Ngân hàng chính sách xã hội phần lớn là những đối tượng hầu như không thể tiếp cận được với vốn tín dụng thông thường của các ngân hàng thương mại. Do đó khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay những đối tượng khách hàng này của Ngân hàng chính sách xã hội là rất thấp, thậm chí không thể có được. Chính vì lẽ đó, Ngân hàng chính sách xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục tiêu chính là nhằm xoá đói giảm nghèo, giảm bớt khoản cách giàu nghèo trong xã hội.
Đối với khu vực kinh tế nông thôn: hỗ trợ kinh tế hộ gia đình từng bước cải thiện cuộc sống. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật: cho vay để tạo việc làm. Đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh thuộc những khu vực kinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa: cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống. Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: cho vay trang trải các chi phí học tập.
Đây là điểm khác biệt rõ nét đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại. Hoạt động của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ; ngân hàng tồn tại 10 và phát triển vì tạo ra một mức chênh lệch dương giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Lợi nhuận được hình thành từ nghiệp vụ này. Trong hoạt động của mình, các ngân hàng thương mại luôn quan tâm tới lợi nhuận, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường đối với tất cả các dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung ứng.
Về đối tượng vay vốn: Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng, các dự án phát triển, các đối tượng đầu tư theo chỉ định của Chính phủ. Đối tượng khách hàng của Ngân hàng chính sách xã hội có thể là: hộ gia đình nghèo, hộ cận nghèo, hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nghèo và các đối tượng thụ hưởng chính sách xã hội khác. Đây là những khách hàng rất ít có các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại; là các khách hàng dễ bị tổn thương, cần có sự hỗ trợ tài chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên tự cải thiện điều kiện sống của chính họ. Về nguồn vốn: Trong khi hoạt động đặc trưng của các ngân hàng thương mại là “đi vayđể cho vay”, hay nói cách khác là đi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế thì nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội lại được tạo lập chủ yếu từ Ngân sách Nhà nước theo các hình thức như: cấp vốn điều lệ và hàng năm được ngân sách trung ương, địa phương cấp để thực hiện các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách; nguồn vốn ODA; nguồn vốn của Chính phủ huy động từ phát hành trái phiếu, công trái,…Do đặc điểm cơ cấu nguồn vốn có nguồn gốc hoặc phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước nên khối lượng nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội tăng trưởng xác định theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt.
Về sử dụng vốn: Xuất phát từ đặc thù về đối tượng khách hàng vay vốn thường là những đối tượng dễ bị tổn thương, gặp khó khăn, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại… nên Ngân hàng chính sách xã hội cũng có những đặc thù về sử dụng vốn 11 như:Món cho vay nhỏ, chi phí quản lý cao; Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro cao; các quy định về đảm bảo tiền vay, các quy trình về thẩm định dự án, các thủ tục và quy trình vay vốn, quy định mức đầu tư tối đa, thời hạn vay vốn, quy định về trích lập và xử lý rủi ro, quy trình xử lý nghiệp vụ có những khác biệt so với các quy định của Ngân hàng thương mại; Thực thi các chính sách tín dụng có ưu đãi như: ưu đãi về các điều kiện vay vốn, ưu đãi về lãi suất cho vay; Thường áp dụng phương thức giải ngân uỷ thác một phần qua các tổ chức trung gian như: các tổ chức chính trị - xã hội. Tổ tiết kiệm và vay vốn 1. Khái niệm Theo Grameen Bank (GB), tổ TK&VV là một tổ chức gồm những người nghèo, sống trong cùng một khu vực dân cư hoặc một làng xã, có hoàn cảnh kinh tế gần giống nhau để cung cấp dịch vụ tiết kiệm và cho vay theo những qui định mang tính bắt buộc về tài chính, cũng như một số các qui định khác của ngân hàng và những nguyên tắc xã hội khác.