Chương 1. Căn cứ xây dựng đề án huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại; Chương 2. Thực trạng huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Lộc, Bắc Nam Định; Chương 3. Kiến nghị về huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Lộc – Bắc Nam Định.
CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CĂN CỨ LÝ LUẬN XÂY DỰNG ĐỀ ÁN HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn và các hình thức huy động vốn tại ngân hàng thương mại * Khái niệm huy động vốn của NHTM Vốn huy động của Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổng số tiền mà ngân hàng thu hút từ các nguồn khác nhau để sử dụng trong hoạt động cho vay và đầu tư.
Vốn huy động là nguồn lực quan trọng giúp ngân hàng thực hiện chức năng của mình trong nền kinh tế. Huy động vốn của Ngân hàng thương mại là quá trình mà Ngân hàng thu thập tiền, tài sản hoặc nguồn lực tài chính từ nhiều nguồn khác nhau để sử dụng cho các hoạt động kinh doanh của mình. Mục tiêu chính của huy động vốn là đáp ứng nhu cầu về vốn và tạo nguồn tài trợ để cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng, như cấp vay, tiền gửi và các dịch vụ khác (Nguyên Văn Tiến, 2020). * Các hình thức huy động vốn của NHTM NHTM hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có những chính sách huy động hợp lý, nhằm từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của NHTM. Để đáp ứng cho nhu cầu vốn của mình, Ngân hàng tiến hành huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó phổ biến nhất là các hoạt động sau: (1) Huy động tiền gửi Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM, khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ tiền, tài sản và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. Cùng với sự phát triển vượt bậc của 6 nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM. Ngày nay hầu hết các NHTM đang đẩy mạnh huy động vốn thông qua các chính sách cụ thể, rõ ràng và hiệu quả.
Để huy động vốn, NHTM thường thiết kế 4 nhóm sản phẩm bao gồm: Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn); tiền gửi có kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Khách hàng mục tiêu của tiền gửi thanh toán hay tiền gửi có kỳ hạn là khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nộp tiền vào ngân hàng với mục đích chủ yếu là hưởng dịch vụ thanh toán. Tiền gửi có kỳ hạn đối tượng khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp gửi tiền vào ngân hàng khi có vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến vốn ngay. Khoản tiền này khách hàng gửi vào ngân hàng cũng nhằm mục đích hưởng lãi.
Sản phẩm thứ tư là tiền gửi tiết kiệm. Đây là các khoản tiền do khách hàng cá nhân, hộ gia đình gửi vào ngân hàng với mục đích để hưởng lãi. Ngoài 4 sản phẩm chính đã nêu ở trên, sản phẩm tiền gửi của ngân hàng còn bao gồm: tiền gửi của ngân hàng khác; Tiền gửi vốn chuyên dùng; Tiền gửi kho bạc nhà nước. Như vậy, nguồn vốn huy động tiền gửi bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi vốn chuyên dùng, tiền gửi kho bạc nhà nước.
Trong nguồn vốn huy động của NHTM, tiền gửi chiếm tỷ trọng rất lớn. Bộ phận này được huy động một các thường xuyên, liên tục, gắn liền với các hoạt động của ngân hàng. Việc huy động vốn từ tiền gửi trong ngân hàng còn được gọi là hình thức huy động trên thị trường 1 của ngân hàng. (2) Phát hành giấy tờ có giá Việc huy động từ phát hành giấy tờ có giá (GTCG) của các NHTM còn được gọi là hoạt động vay của NHTM trên thị trường vốn.
Giống như các doanh nghiệp khác, các NHTM cũng đi vay bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Do vậy các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm.
Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này, họ thường phải thông 7 quan ngân hàng đại lý hoặc thông qua sự bảo lãnh của ngân hàng thương mại lớn. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào tình hình phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp.
Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các vấn đề về chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ.cũng được các ngân hàng quan tâm. Nghiệp vụ huy động vốn từ phát hành GTCG là một trong những nghiệp vụ huy động vốn cơ bản của các NHTM. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, việc phát hành GTCG được tập trung tại các ngân hàng Hội sở, sau đó phân bổ GTCG cho các chi nhánh NHTM phát hành.
Phần vốn từ việc bán GTCG do NHTM chi nhánh thực hiện được ghi nhận vào vốn huy động của chi nhánh NHTM đó. Khái niệm, các hình thức huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại * Khái niệm huy động vốn tiền gửi KHCN tại NHTM Tiền gửi của KHCN là số tiền mà các cá nhân, hộ gia đình gửi vào ngân hàng qua các tài khoản như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, hoặc tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn. Huy động vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân (KHCN) tại NHTM là quá trình ngân hàng thu hút tiền từ các khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông qua các loại tài khoản tiết kiệm và thanh toán. Đây là nguồn vốn quan trọng giúp ngân hàng có vốn để cho vay và đầu tư.
* Các hình thức huy động vốn từ tiền gửi KHCN tại NHTM Như nội dung đã khái quát ở phần trên, khi ngân hàng thiết kế các sản phẩm tiền gửi để huy động vốn, ngân hàng thiết kế 4 nhóm sản phẩm chính. Tuy nhiên, đối với đối tượng khách hàng cá nhân, ngân hàng huy động vốn dưới 3 hình thức: huy động từ tài khoản tiền gửi thanh toán; huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Ngoài ra, ngân hàng còn huy động tiền gửi từ KHCN bằng các tài khoản đặc biệt như chứng chỉ tiền gửi. Quá trình này không chỉ giúp ngân hàng có vốn hoạt động mà còn cung cấp cho khách hàng cơ hội nhận lãi suất từ tiền gửi của họ.
(1) Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn) 8 Tiền gửi không kỳ hạn, hay còn gọi là tiền gửi thanh toán, là loại tiền gửi mà người sở hữu sử dụng chủ yếu để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản. Người gửi có thể rút tiền bất kỳ lúc nào mà không cần thông báo trước với ngân hàng về thời hạn và khối lượng tiền cần rút. Khách hàng gửi tiền không nhằm mục đích kiếm lời mà chủ yếu để thực hiện các khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ, giao dịch thanh toán chi trả, và các khoản chi trả khác, đồng thời để ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi trong thanh toán. Tiền gửi không kỳ hạn không phải để tích lũy mà là phần tiền tệ đang chờ thanh toán, cho phép khách hàng sử dụng séc hoặc giấy chuyển tiền để thanh toán.
Xét về tính chất thời gian, tiền gửi không kỳ hạn không ổn định và thường xuyên biến động vì khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào, làm ngân hàng bị động trong việc sử dụng vốn kinh doanh. Tuy nhiên, do khách hàng thường xuyên gửi, rút hoặc gửi rút theo chu kỳ, ngân hàng vẫn có thể sử dụng tiền gửi vào hoạt động cho vay và đầu tư dựa trên số dư ổn định từ việc bù trừ giữa số tiền gửi vào và rút ra trong thời kỳ nhất định. Do đó, các NHTM thường chú trọng đến khả năng chi trả của mình, đặc biệt trong thời kỳ biến động kinh tế. (2) Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tài khoản mà khách hàng cá nhân mở để đảm bảo sự an toàn và khả năng chủ động với nguồn vốn của mình.
Với loại tài khoản này, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không phải thông báo trước hay chịu phí phạt, nhưng không được hưởng các dịch vụ thanh toán như séc hay giấy chuyển tiền. Từ góc độ ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một nguồn vốn quan trọng nhưng có tính ổn định thấp. Ngân hàng phải đối mặt với sự biến động cao trong số dư tiền gửi vì khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào, điều này ảnh hưởng đến khả năng lập kế hoạch tài chính và sử dụng vốn của ngân hàng. Mặc dù lãi suất của loại tiền gửi này thấp, không hấp dẫn bằng tiền gửi có kỳ hạn, ngân hàng vẫn duy trì để cung cấp sự linh hoạt cho khách hàng và thu hút tiền gửi.
Tuy nhiên, ngân hàng không thể sử dụng số tiền này cho các hoạt động thanh toán trực tiếp và cần quản lý chặt chẽ để cân bằng giữa nhu cầu rút tiền đột xuất và việc duy trì thanh khoản để thực hiện các khoản cho vay và đầu tư.