CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÈ CHẤT LƯỢNG TH ẨM ĐỊNH DỤ ÁN ĐẦU T ư TẠ I NGẦN HÀNG THƯƠNG M Ạ I 1. K H ÁI QUÁT VÊ NGÂN HÀNG THƯƠNG M Ạ I 1. Khái niệm về Ngân hàng thuong mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nen kinh te quoc dan va hoạt động theo đinh chê trung gian mang tinh chat tong họp. Cac nha nghiên cứu ghi nhận răng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Khi sản xuât phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ giua cac quoc gia tang len, đê khác phục sự khác biệt vê tiên tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phat tnen quay trơ lại kích thích sản xuât hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ. trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.
Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chu nghía Viẹt Nam thong qua ngày 1/1/2011 quy định: “Hoạt động ngân hàng là việc kỉnh doanh, cung ủng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ímg dịch vụ thanh toán qua tài khoản ” và “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật nhằm mục tiêu lợi nhuận” [1 l,tr2]. Như vậy, Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính trung gian quan trọng nhất của nền kinh tế. Hoạt động của NHTM là phục vụ các doanh nghiệp, các cá nhân thông qua việc cung cấp các dịch vụ của mình. Hoạt động của Ngân hàng thương mại Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.NHTM thể hiện được vai trò của mình thông qua các hoạt động cơ bản sau đây: Huy động và sử dụng vốn; Trung gian thanh toán; Cung cấp các dịch vụ khác.
*Huy động và sử dụng vốn Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ. tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng.Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường họp cần thiết, để đáp úng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay các Ngân hàng có thể vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức: - Hoạt động ngân quỹ.- là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoảntiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt đọng tin dụng: co thê nói là hoạt động quan trọng nhât mang lại nguồnthu nhập chủ yếu và quyết định về sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
- Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá 6 mua vàgiá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân hàng nắm giữcác trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh vớicác doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận. *Hoạt động trung gian thanh toán Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua: hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc,thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng. *Cung cấp các dịch vụ khác Một trong nhũng hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chúng khoán .) đại lí, giữ két, .để có thể tận dụngđược lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.
Lọi ích của tín dụng trung và dài hạn đối vói Ngân hàng thưong mại Các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng.Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay - vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về tàm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án. Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại: * Đối với các doanh nghiệp Đe cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoạch xây dựng nhà xưởng,mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất 7 lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn.
Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chúng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho cácdoanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do: Với các khoản vay từ Ngân hàng, doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tố chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí.
Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của doanh nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đôi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉphải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.
Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đổi với doanh nghiệp.Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải 8 đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung - dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong cạnh tranh. Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ chonhu cầu đầu tư của doanh nghiệp.Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tínmói có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cố phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình.Thay vào đó, họ thường kiểm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng.
Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn so khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn.
Còn đốivới một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vững trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh sao cho có hiệu quả. * Đối với Ngăn hàng Các khoản cho vay trung - dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn.Neu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay 9 ngắn hạn.Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung - dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau.