Chương 1: Những vấn đề chung về thẩm định dự án đầu tư. Chương 2: Tình hình công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Dịch vụ Viễn Thông (Công ty Vinaphone). Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Vinaphone. 6 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ 1.Khái niệm Đứng trên các phương diện nhìn nhận khác nhau về dự án đầu tư thì những quan niệm về dự án đầu tư cũng khác nhau[1].
Chẳng hạn: Xét trên góc độ pháp lý thì dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt cấp giấy phép đầu tư, là căn cứ quan trọng để đánh giá và đưa ra những điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án và là cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư. Còn đứng trên phương diện kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét về nội dung, Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả có thể cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét về mặt hình thức, Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, đầy đủ, khoa học và toàn diện một dự kiến đầu tư trong tương lai.
Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án : cách hiểu „tĩnh‟ và cách hiểu „động‟. Theo cách hiểu „tĩnh‟ thì dự án là hình tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới còn theo cách hiểu„động‟ có thể định nghĩa dự án như sau: dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.[8] Như vậy, theo định nghĩa này thì dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trìu tượng mà phải cấu trúc nên một thực tế mới. 7 z Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau : dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Nghĩa là mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu không thể đạt được và dự án bị loại bỏ. Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác. Song dù đứng trên góc độ nào thì dự án đầu tư cũng có chung một chu trình.
Chu trình này có thể chia làm 3 giai đoạn: Một là, giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm các bước chính như sau: Nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi; Nghiên cứu khả thi, Thẩm định và ra quyết định đầu tư. Hai là, giai đoạn thực hiện đầu tư gồm các bước chính sau: khảo sát, thiết kế, lập dự toán; dự kiến mua thiết bị, công nghệ, vật tư kỹ thuật; tổ chức đấu thầu, chọn thầu, giao nhận thầu; thi công theo đúng thiết kế, tiến độ đã đề ra; tiến hành chạy thử; bàn giao đưa công trình vào khai thác. Ba là, giai đoạn vận hành kết quả đầu tư gồm các bước chính như: tổ chức sản xuất, kinh doanh; kết thúc dự án; đánh giá sau dự án. Phân loại Trên thực tế, các dự án đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô và thời gian và được phân loại theo các tiêu thức khác nhau.
Chẳng hạn ở nhiều nước trên thế giới, dự án được phân loại theo một số tiêu thức sau[4]: - Theo người khởi xướng: dự án được phân loại thành dự án cá nhân; dự án tập thể; dự án quốc gia; dự án quốc tế. - Theo kiểu lĩnh vực dự án: dự án được phân loại thành dự án xã hội, dự án kinh tế, dự án tổ chức, dự án kỹ thuật, dự án hỗn hợp. - Theo loại hình dự án: dự án được phân loại thành dự án như Giáo dục đào tạo, dự án Nghiên cứu và phát triển, dự án đổi mới, dự án hỗn hợp. - Theo cấp độ: dự án được phân loại thành dự án lớn và dự án nhỏ.
Đây là cách phân loại tổng hợp nhất đối với dự án. 8 z Các dự án lớn thường là các chương trình phức hợp và chuyên ngành tầm cỡ quốc tế, quốc gia, miền, vùng lãnh thổ, liên ngành địa phương. Đặc trưng của các dự án này là vốn đầu tư lớn, số lượng các chủ thể tham gia đông, sử dụng nhiều công nghệ phức tạp khác nhau, thời gian dài, có ảnh hưởng lớn môi trường kinh tế và môi trường sinh thái. Các dự án lớn đòi hỏi nhà quản lý phải có nhiều phẩm chất tốt, đặc biệt là khả năng giao tiếp tốt và năng lực tổ chức cao nhằm thiết lập hệ thống quản lý và tổ chức thực hiện dự án thành công.
Các dự án nhỏ thường là dự án cá nhân, dự án của tổ chức kinh tế hoặc tổ chức xã hội. Các dự án này không đòi hỏi nhiều vốn, thời gian thực hiện ngắn và ít được ưu tiên. Các dự án nhỏ cho phép sử dụng một cách đơn giản các phương pháp quản lý. Ngoài ra, để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư cân tiến hành phân loại các dự án đầu tư và xem xét đặc điểm hoạt động của chúng.
Cũng có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau[9]: - Theo cơ cấu tái sản xuất: Dự án đầu tư được phân loại thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu. Trong đó, vốn đầu tư chiều rộng thường dàn trải, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuật ít phức tạp, độ mạo hiểm thấp. Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao hơn so với đầu tư theo chiều rộng. - Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư: Có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học, kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và xã hội.Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau.
Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác. - Theo giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội:Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành dự án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất. 9 z Dự án đầu tư thương mại là loại dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hoạt động dài hạn (5,10,20 năm hoặc lâu hơn), vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đẩu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị.
Loại dự án đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư trong tương lai xa; phải xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xẩy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động của dự án đầu tư kết thúc (đã hoạt động hết vòng đời của dự án). Trong thực tế, người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh thương mại. Tuy nhiên trên giác độ xã hội hoạt động của loại dự án đầu tư này không tạo ra của cải vật chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt động của dự án đầu tư thương mại đem lại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các địa phương, các tầng lớp dân cư trong xã hội. Do đó, trên giác độ điều tiết vĩ mô, nhà nước thông qua các cơ chế chính sách của mình để hướng dẫn các nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào lĩnh vực thương mại mà còn đầu tư vào cả lĩnh vực sản xuất, theo các định hướng và mục tiêu đã dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra: Ta có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các đự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng.), dự án dài hạn. - Theo phân cấp quản lý: Ở Việt Nam, theo “ Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng‟‟ ban hành kèm theo Nghị định số 12/2000/ NĐ-CP ngày 5-5-2000 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 của Chính phủ đã phân chia dự án thành 3 nhóm A,B,C tùy theo tính chất và quy mô của dự án.