Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về công tác thẩm định dự án đầu tư và dự án đầu tư phần mềm ứng dụng Công nghệ Thông tin Chƣơng này trình bày khái quát các khái niê ̣m về DAĐT, về công tác lập DAĐT, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả DAĐT và các tiêu chí thẩm định DAĐT. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu luận văn Trên cơ sở các lý luâ ̣n đã nêu ta ̣i Chƣơn g 1 và thực tiễn công tác th ẩm định DAĐT phần mềm tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone. Chƣơng này, tác giả sẽ trình bày về phƣơng pháp, quy trình nghiên cứu của luận văn. Chương 3: Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư phần mềm tại Tổng Công ty Viễn thông MobiFone Chƣơng này giới thiệu về Tổng Công ty Viễn thông MobiFone, mô tả hiện trạng công tác thẩm định dự án đầu tƣ phần mềm tại MobiFone.
Từ đó, tổng hợp kết quả nghiên cứu, chỉ ra những mặt còn hạn chế trong công tác thẩm định DAĐT phần mềm tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone. Chương 4: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác thẩm định DAĐT phần mềm tại MobiFone Từ thực trạng công tác thẩm định DAĐT phần mềm tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone, trên cơ sở cơ sở lý luận đã nêu tại Chƣơng 1, tác giả sẽ trình bày một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác thẩm định DAĐT phân mềm tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHẦN MỀM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Chƣơng này trình bày khái quát một số khái niệm, tính chất của DAĐT, công tác thẩm định DAĐT thông thƣờng và DAĐT ứng dụng CNTT; trình bày những quy định và hƣớng dẫn lập DAĐT phần mềm ứng dụng CNTT và các nội dung thẩm định loại dự án này. Khái niệm về dự án đầu tư DAĐT có thể đƣợc xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: - Theo Luật đầu tƣ năm 2005: “DAĐT là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
- Về mặt hình thức: “DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2012, trang 13). - Xét trên góc độ quản lý: “DAĐT là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2012, trang 13). - Trên góc độ kế hoạch hóa: “DAĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tƣ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ. Xét theo góc độ này DAĐT là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án)” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2012, trang 13).
5 z - Xét về mặt nội dung: “DAĐT là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, đƣợc bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2012, trang 13). Nhƣ vậy, một DAĐT bao gồm 04 thành phần chính sau: - Mục tiêu của dự án đƣợc thể hiện ở hai mức: + Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia. Mục tiêu này đƣợc thực hiện thông qua những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế xã hội. + Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tƣ: Đó là các mục tiêu cụ thể cần đạt đƣợc của việc thực hiện dự án.
Mục tiêu này đƣợc thực hiện thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tƣ thu đƣợc từ dự án. - Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lƣợng đƣợc tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện đƣợc các mục tiêu của dự án. - Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động đƣợc thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định.
Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và sự phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. - Các nguồn lực: Về vật chất, tài chính và con ngƣời cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tƣ cần cho dự án. Đặc trưng của một dự án đầu tư DAĐT có những đặc trƣng cơ bản sau: “- Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng.
- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. 6 z - Dự án có sự tham gia của nhiều bên nhƣ: Chủ đầu tƣ, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tƣ, cơ quan quản lý nhà nƣớc. - Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. - Môi trƣờng hoạt động của dự án là: “Va chạm”, có sự tƣơng tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác.
- Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tƣ phát triển” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2012, trang 15). Phân loại dự án đầu tư Để thuận tiên cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tƣ, cần tiến hành phân loại các DAĐT. Nguyễn Bạch Nguyệt (2012, trang 15-18) phân loại các DAĐT theo các tiêu thức sau: 1. Xét theo cơ cấu tái sản xuất DAĐT đƣợc phân thành DAĐT theo chiều rộng và DAĐT theo chiều sâu.
Trong đó DAĐT chiều rộng thƣờng đòi hỏi khối lƣợng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tƣ và thời gian cần hoạt động để thu hồi vốn đủ lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. Còn DAĐT theo chiều sâu thƣờng đòi hỏi khối lƣợng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tƣ không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tƣ theo chiều rộng. Xét theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội DAĐT có thể phân chia thành DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh, DAĐT phát triển khoa học kỹ thuật, DAĐT phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội), …. Hoạt động của các DAĐT này có quan hệ tƣơng hỗ với nhau.
Chẳng hạn các DAĐT phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn các 7 z DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh đến lƣợt mình lại tạo tiềm lực cho các DAĐT phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các DAĐT khác. Theo các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội Có thể phân loại các DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh thành DAĐT thƣơng mại và DAĐT sản xuất. DAĐT thƣơng mại là loại DAĐT có thời gian thực hiện đầu tƣ và hoạt động của các kết quả đầu tƣ để thu hồi vốn đầu tƣ ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. DAĐT sản xuất là loại DAĐT có thời gian hoạt động dài hạn (5, 10, 20 năm hoặc lâu hơn), vốn đầu tƣ lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tƣ lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tƣơng lai không thể dự án dự đoán hết và dự đoán chính xác đƣợc (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị, …).
Loại DAĐT này phải đƣợc chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tƣ trong tƣơng lai xa; phải xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra để bảo đảm thu hồi vốn và có lãi khi hoạt động của DAĐT kết thúc (đã hoạt động hết đời của mình). Trong thực tế, ngƣời có tiền thích đầu tƣ vào lĩnh vực kinh doanh thƣơng mại. Tuy nhiên, trên giác độ xã hội, hoạt động của DAĐT không tạo ra của cải vật chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt động của DAĐT thƣơng mại đem lại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các địa phƣơng, các tầng lớp dân cƣ trong xã hội. Do đó, trên giác độ điều tiết vĩ mô, Nhà nƣớc thông qua các cơ chế chính sách của mình để hƣớng dẫn đƣợc các nhà đầu tƣ không chỉ đầu tƣ vào lĩnh vực 8 z thƣơng mại mà còn đầu tƣ cả lĩnh vực sản xuất, theo các định hƣớng và mục tiêu đã dự kiến trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Xét theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra Ta có thể phân chia các DAĐT thành DAĐT ngắn hạn (nhƣ DAĐT thƣơng mại) và DAĐT dài hạn (các DAĐT sản xuất, đầu tƣ phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng, …). Xét theo sự phân cấp quản lý dự án (theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư) Tùy theo tầm quan trọng và quy mô của dự án, DAĐT đƣợc chia làm 4 nhóm: Dự án quan trọng quốc gia (do Quốc hội quyết định chủ trƣơng đầu tƣ), dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C. Đối với các DAĐT nƣớc ngoài đƣợc chia làm 3 nhóm: Dự án nhóm A, dự án nhóm B và các dự án phân cấp cho các địa phƣơng. Xét theo nguồn vốn DAĐT có thể phân chia thành: - DAĐT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc.
- DAĐT bằng nguồn vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc, vốn tín dụng do nhà nƣớc bảo lãnh. - DAĐT bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác. - DAĐT bằng nguồn vốn hỗn hợp.