CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm DAĐT Về khái niệm “Dự án đầu tư” Có thể xem xét khái niệm “Dự án đầu tư” theo Bạch Nguyệt và cộng sự (2008) ở nhiều góc độ, “trên góc độ hồ sơ dự án”, “trên góc độ quản lý” và “trên góc độ kế hoạch hoá”. Đối với khái niệm thứ nhất, “DAĐT là một tập hợp hồ sơ tài liệu mô tả một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí sản xuất theo một kế hoạch nhằm có được những thành quả và đạt được những mục đích cụ thể trong tương lai”. Trên góc độ quản lý, “DAĐT là một công cụ quản lý quá trình sử dụng nguyên liệu, vật tư, sức lao động nhằm tạo ra các thành quả kinh tế - xã hội, trong một thời gian dài”. Trên góc độ kế hoạch hoá, “DAĐT là một công cụ phản ánh kế hoạch tổng thể của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở cho các khoản đầu tư tài trợ”.
Trong lĩnh vực kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, “DAĐT là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất”. DAĐT còn có thể được định nghĩa “là một tập hợp các hoạt động có ảnh hưởng với nhau được thực hiện để đạt được các mục đích đã xác định thông qua việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, bằng việc sử dụng các nguồn lực xác định” (theo Bùi Văn Vần và cộng sự (2013)). Xét trên góc độ về nguồn vốn, DAĐT cũng là “tập hợp phương án bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” (Theo “khoản 4, Điều 3,Luật Đầu tư 2020”). Về khái niệm “Ngân hàng thương mại” Theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ban hành ngày 24/05/1990 thì “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
11 Theo “khoản 3, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010” thì “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. NHTM sẽ chia làm NHTM nhà nước và NHTM cổ phần. Trong đó, NHTMCP là NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. NHTM Nhà nước là NHTM trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
NHTM Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Về khái niệm “dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại" Hiện tại, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh nào về “dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại” cũng như đánh giá đặc điểm của “dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại”. Các nghiên cứu về TĐDAĐT tại NHTM trước đây của Lê Minh (2014), Thế Anh (2018), Hoàng Hải (2018) đều mặc định rằng DAĐT tại NHTM là DAĐT mà chủ thể khách hàng là người vay vốn đề nghị ngân hàng cấp tín dụng cho dự án đó. Nói cách khác, DAĐT tại NHTM là một trong những đối tượng được ngân hàng cấp tín dụng.
Bên cạnh đó, DAĐT được xem xét như các dự án “trung và dài hạn” với “thời gian được cấp vốn từ 12 tháng đến hơn 60 tháng với mục đích bổ sung nguồn vốn dài hạn, hình thành tài sản cố định, tài sản dài hạn của người đi vay nhằm phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu”. Như vậy, dưới góc độ của NHTM (nhà tài trợ vốn), “dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại” sẽ có những đặc điểm của “dự án đầu tư” và được phân loại bám sát theo phân loại “dự án đầu tư” tùy vào chính sách và quan điểm cấp tín dụng tại mỗi ngân hàng. Đây cũng là quan điểm của tác giả về DAĐT tại NHTM được sử dụng xuyên suốt luận văn. Theo Đức Tiến (2015), một DAĐT bao gồm 04 thành phần chính, cụ thể như sau: “ Mục tiêu của dự án: Bao gồm 02 mức là (i) mục tiêu dài hạn là những hiệu quả kinh tế - xã hội mà thực hiện dự án mang lại và (ii) mục tiêu trước mắt là các kết quả cụ thể cần thu được của việc thực hiện dự án.
Thông qua những lợi ích kinh tế mà chủ đầu tư thu được từ dự án, mục tiêu sẽ được thực hiện. Cần hiện thực hoá tất cả các mục tiêu trên thành kết quả cụ thể như: Ngân sách được 12 tăng lên thông qua dự án, dự án tạo được thêm bao nhiêu việc làm cho người lao động; dự án đem lại bao nhiêu lợi nhuận cho chủ đầu tư. _ Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể lượng hoá, được tạo ra thông qua các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là yếu tố cần thiết nhằm thực hiện được các mục tiêu của dự án.
_Các hoạt động: là những công việc hoặc hoạt động được thực hiện trong dự án nhằm tạo ra các kết quả cụ thể. Cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của từng nhóm thực hiện, những nhiệm vụ hoặc hành động trên sẽ tạo nên kết quả của hoạt động dự án. _Các nguồn lực: cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực cần thiết để thực hiện các hoạt động của dự án. Vốn đầu tư cần cho dự án chính là giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực trên.
Trong sự hạn chế về nguồn lực, toàn bộ các dự án phải được lập và thực hiện. Các kết quả được xem là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án thuộc 04 thành phần trên. Vì vậy trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi đánh giá các kết quả đạt được. Những hoạt động nào có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo ra kết quả được xem là hoạt động chính cần được ngân hàng chú ý.
Tóm lại, DAĐT tại NHTM là những tập hợp đề xuất về việc đầu tư vốn TDH nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh, sản xuất trên địa bàn cụ thể, ở một thời điểm cụ thể đề nghị ngân hàng xem xét.2 Phân loại dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại Các ngân hàng có những quan điểm khác nhau về việc phân loại DAĐT theo mục tiêu, định hướng phát triển của ngân hàng, do vậy không có tiêu chí áp dụng cho toàn bộ hệ thống NHTM mà các chỉ tiêu, cách thức được lựa chọn linh hoạt. Theo quan sát và tổng hợp nghiên cứu của tác giả, các NHTM dựa trên khung phân loại của DAĐT nói chung. Theo Bạch Nguyệt và cộng sự (2013), DAĐT được phân loại theo các tiêu chí khác nhau, cụ thể như sau: “ DAĐT dựa trên lĩnh vực ĐẦU tư Có thể phân chia thành DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh, DAĐT phát triển khoa học kỹ thuật, DAĐT phát triển cơ sở hạ tầng,. Hoạt động của DAĐT đều có quan hệ tương hỗ với nhau.
Chẳng hạn, tạo thuận lợi giúp các DAĐT phát 13 triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao là nhờ các DAĐT phát triển khoa học kỹ thuật và phát triển cơ sở hạ tầng. Còn các DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh thì tạo điều kiện cho các DAĐT phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các DAĐT khác. Cụ thể hơn, việc phân chia các DAĐT căn cứ theo lĩnh vực hoạt động của từng Nhà đầu tư theo thống kê của Bộ công thương như sau: DAĐT thuộc lĩnh vực nông – lâm - ngư nghiệp; DAĐT thuộc lĩnh vực năng lượng; DAĐT thuộc lĩnh vực công nghiệp; DAĐT thuộc lĩnh vực dịch vụ. DAĐT dựa trên nguồn vốn đầu tư.
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu là nguồn vốn của chủ thể quyết định đầu tư. Có thể chia DAĐT làm 2 loại chính dựa trên nguồn huy động là DAĐT có nguồn vốn huy động trong nước và dự án có nguồn vốn huy động từ nước ngoài. DAĐT có nguồn vốn huy động trong nước là dự án có toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư hình thành từ nguồn vốn thu ngân sách, của doanh nghiệp.Dự án đầu tư có nguồn vốn huy động từ nước ngoài là dự án đầu tư theo hợp tác kinh doanh có sự tham gia của nhà dầu tư nước ngoài. Khi phân chia như vậy, có thể thấy mục đích là nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, qua đó xác định được sự tác động của các nguồn vốn này đến môi trường đầu tư, từng lĩnh vực khác nhau và đối với toàn bộ quá trình phát triển chung của xã hội.
DAĐT theo cơ cấu tái sản xuất DAĐT được chia làm DAĐT theo chiều rộng và DAĐT theo chiều sâu. Trong đó đầu tư theo chiều rộng có vốn cao, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian ngừng sản xuất để thu hồi lại vốn lâu, tính chất kĩ thuật phức tạp, mức độ mạo hiểm cao. Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn thấp hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng. DAĐT theo giai đoạn hoạt động của các DAĐT trong quá trình tái sản xuất xã hội Có thể phân loại các DAĐT phát triển sản xuất kinh doanh thành DAĐT thương mại và DAĐT sản xuất.
Loại DAĐT thương mại có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các dự án đầu tư nhằm thu hồi vốn đầu tư nhanh, tính chất bất định không cao nên dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Ngược lại, 14 DAĐT sản xuất là loại DAĐT có thời gian hoạt động dài hạn (5, 10, 20 năm hoặc lâu hơn) vốn đầu tư cao, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ rủi ro cao, tính chất biến động, chịu yếu tố ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định trong tương lai khó dự đoán hết và dự đoán chuẩn xác được (như cung cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, khủng hoảng kinh tế, tình hình bất ổn về chính trị, .