Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại chi nhánh ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh Khu Công nghiệp Đình Trám, tỉnh Bắc Giang Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh Khu Công nghiệp Đình Trám, tỉnh Bắc Giang 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, vai trò và phân loại cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này bên cho vay chuyển giao quyền sử dụng tiền trong thời gian nhất định cho người đi vay. Khi đến hạn trả nợ bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi vay. Theo thông tư 39/2017/TTNHNN ngày 30/12/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng cá nhân tại NHTM là nhóm đối tượng bao gồm cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại, tổ hợp tác.được các NHTM áp dụng phương thức cho vay theo quy trình thủ tục của cho vay khách hàng cá nhân.” Nhóm đối tượng này có số lượng rất lớn và có nhu cầu vay các khoản nhỏ lẻ.
Cho vay khách hàng cá nhân là một trong các hình thức cho vay của NHTM với đối tượng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình. Do đó, có thể hiểu Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cho vay, theo đó ngân hàng giao cho đối tượng khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay KHCN của ngân hàng thương mại thường có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn Cho vay KHCN thường phục vụ cho hai mục đích chủ yếu: phục vụ đời sống, tiêu dùng hàng ngày và bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, kinh doanh sản xuất hộ cá thể. Số tiền cho vay thường bị giới hạn bởi các điều kiện tín dụng 9 của ngân hàng do đó những khoản vay này thường có quy mô nhỏ.
Tuy nhiên số lượng các khoản vay lớn, điều này xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu sau: - Đối tượng của cho vay KHCN bao gồm tất cả cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể. Cá nhân là khách hàng của loại hình cho vay này có thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, có mức thu nhập khác nhau. Do đó số lượng khách hàng là rất lớn. - Sự phát triển của xã hội, của quy mô dân số ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu tín dụng của KHCN phong phú và đa dạng.
Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Thứ hai, cho vay KHCN thường có chi phí bình quân cao Do đặc điểm của KHCN là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển hoạt động cho vay KHCN, các NHTM sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các hoạt động: - Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực. - Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. - Ngoài ra, còn có các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên.
Quy mô của từng món vay nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay nhiều trong khi chi phí để thực hiện một khoản vay KHCN không chênh lệch nhiều so với một khoản vay doanh nghiệp có quy mô lớn. Vì vậy chi phí bình quân trên một đồng vốn cho vay mà ngân hàng phải chi cao hơn các loại cho vay khác. Thứ ba, cho vay KHCN thường có rủi ro cao Trong hoạt động cho vay KHCN, chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng thường không cao và không đầy đủ, điều này gây khó khăn trong việc đánh giá trực tiếp năng lực trả nợ của khách hàng. Đây cũng là yếu tố góp phần làm tăng rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN.
Mặt khác, nguồn trả nợ của 10 khách hàng được trích từ nguồn thu nhập mà không nhất thiết phải từ kết quả sử dụng những khoản vay. Thêm nữa, nguồn trả nợ của người đi vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của khách hàng, đây chính là những nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng của KHCN. Vì vậy, cho vay KHCN có rủi ro cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Xuất phát từ những đặc điểm đó, lãi suất cho vay của loại hình cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác.2 Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân a.
Đối với nền kinh tế - Giúp ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: giúp nguồn vốn nhàn rỗi luân chuyển đến khách hàng có nhu cầu cần vốn đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Để có thể trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng, khách hàng phải có chính sách sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo có nguồn thu nhập để trả nợ cho ngân hàng - Giúp ngân hàng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển: Cho vay khách hàng cá nhân nhằm mục đích kinh doanh cá nhân, hộ gia đình giúp quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, thúc đẩy quá trình mở rộng quy mô. - Có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ, biến nguồn vốn nhàn rỗi không sử dụng thành nguồn vốn lưu thông hoạt động hiệu quả. - Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: hoạt động cho vay khách hàng cá nhân hiệu quả sẽ góp phần làm giảm các dịch vụ tín dụng đen, cho vay nặng lãi.
Cho vay khách hàng cá nhân được coi là một công cụ quan trọng làm kích cầu tiêu dùng, qua đó làm tăng sản lượng và tạo thêm các cơ hội việc làm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Từ đó, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội 11 của địa phương, của quốc gia, mang lại nguồn thu cho xã hội, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Đối với NHTM - Hoạt động cho vaylà hoạt động quan trọng nhất, tạo ra lợi nhuận chính cho các ngân hàng trong đó có cho vay khách hàng cá nhân. Lợi nhuận từ cho vay khách hàng cá nhân chiếm một phần không nhỏ trong tổng lợi nhuận của các NHTM - Tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa NHTM và các chủ thể kinh tế.
Khi mà kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân càng ngày càng tăng, đây là một thị trường khách hàng tiềm năng mà các NHTM cần khai thác. Cùng với nhu cầu vay vốn tại ngân hàng là nhu cầu gửi vốn của khách hàng cá nhân tại NHTM, giúp cho các ngân hàng tăng thêm thị phần huy động vốn cho ngân hàng, tạo nguồn vốn dồi dào phục vụ cho các loại hình cho vay khác tại ngân hàng. Do vậy việc tạo mối quan hệ gắn bố giữa NHTM và các cá nhân, chủ thể nền kinh tế hơn nữa. - Giúp ngân hàng tạo uy tín, danh tiếng cho NHTM: cho vay khách hàng cá nhân hoạt động hiệu quả, khách hàng đánh giá tốt, hài lòng với dịch vụ cho vay này (nhất là cho vay tiêu dùng cá nhân) tạo được uy tín chất lượng ngân hàng.
- Nợ cho vay làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động của NHTM: Khi khách hàng cá nhân đến giao dịch với ngân hàng để vay vốn sẽ sử dụng thêm một số dịch vụ khác của ngân hàng như mở tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền vay, phát hành thẻ hoặc sử dụng một số dịch vụ ngân hàng điện tử của các NHTM. Từ đó giúp mở rộng quy mô hoạt động của các NHTM, tăng khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng. Đối với khách hàng cá nhân - Giúp người tiêu dùng có thể được hưởng các tiện ích dịch vụ cung cấp trong khi họ chưa đủ tài chính, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho khách hàng. Từ đó tạo động lực để làm việc và có kế hoạch chi tiêu tài chính để có nguồn trả nợ cho ngân hàng.
12 - Hoạt động cung cấp vốn của NHTM giúp khách hàng cá nhân của ngân hàng có được nguồn tài chính kịp thời cho các hoạt động tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh của mình, đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất của cá nhân được liên tục không bị gián đoạn. - Thông qua hoạt động cho vay giúp cho các khách hàng nắm rõ tình hình tài chính cá nhân của mình, đặc biệt là các khách hàng có trình độ dân trí thấp.3 Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Các loại hình khoản vay KHCN được phân chia theo các tiêu thức sau đây: - Thời hạn vay vốn: Căn cứ vào thời hạn vay vốn, các khoản vay KHCN bao gồm: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. + Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 01 năm. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ nhu cầu vốn lưu động cho cá nhân, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn, tiêu dùng của cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 01 năm đến đến 05 năm. Ngân hàng cho vay trung hạn nhằm tài trợ nhu cầu tiêu dùng trung hạn cho cá nhân.