CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm vật chứng Theo lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin thì thế giới vật chất có thuộc tính phản ánh thế giới khách quan, đó là sự tự phản ánh hoặc phản ánh thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng. Cũng theo của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi tội phạm xảy ra trên thực tế, con người đều có thể phát hiện, chứng minh được.
Hoạt động tội phạm là một hoạt động vật chất, vì vậy những dấu vết của hành vi phạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan và thể hiện dưới dạng vật chất như: dấu vân tay của người phạm tội trên công cụ, phương tiện phạm tội; vết máu ghi nhận trong hiện trường sự việc…Ngoài ra, kẻ phạm tội còn có thể sử dụng những vật thể khác nhau để làm phương tiện, công cụ nhằm hỗ trợ cho hành vi phạm tội. Những sự vật, hiện tượng cụ thể chứa đựng những dấu vết, thông tin phản ánh các tình tiết của tội phạm trong khoa học tố tụng hình sự gọi là vật chứng. Vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tức là vật chứng xuất phát từ sự thừa nhận của con người có khả năng nhận thức, đánh giá những sự kiện, hiện tượng trong thế giới khách quan, tìm ra những thông tin có liên quan đến sự kiện phạm tội để tái dựng lại sự kiện phạm tội đó, từ đó làm cơ sở để giải quyết vụ án hình sự. Để làm rõ khái niệm vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam cần phải làm rõ tính chất, vai trò của vật chứng trong việc chứng minh tội phạm.
Về nội hàm của khái niệm vật chứng trong Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa “Vật chứng là các vật thể, tồn tại dưới dạng vật chất mà khi dựa vào chúng những người tiến hành tố tụng có thể xác định được các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự”1. Quan niệm này đã mở rộng phạm vi đối tượng là vật chứng, gây khó khăn trong việc xác định cái gì là vật chứng vì không làm rõ được giá trị chứng minh của vật chứng trong vụ án hình sự. Mặt khác, tính hợp pháp chưa được đảm bảo do khái niệm không nêu được cách thức thu thập vật chứng theo trình tự, thủ tục quy định pháp luật. 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh (chủ biên), NXB Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, tr.
8 Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng “Vật chứng là những vật có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội như: vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc hoặc vật khác có liên quan đến tội phạm”2. Theo khái niệm này thì vật chứng là những thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, nhưng chỉ mang tính liệt kê, khái quát chưa cao, chưa đầy đủ. Có quan điểm khác cho rằng: “Vật chứng là nguồn chứng cứ quan trọng đầu tiên mà thông qua nó các cơ quan tiến hành tố tụng có thể chứng minh được sự việc hoặc xác định được hướng điều tra của vụ án”3. Quan điểm này xem xét vật chứng dưới gốc độ là nguồn chứng cứ, một phần chứng cứ chứng minh cho các tình tiết của vụ án hình sự được rút ra từ vật chứng song chưa thể hiện được việc vật chứng được rút ra từ nguồn chứng cứ phải được chủ thể tiến hành tố tụng đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, khái niệm về vật chứng mặc dù chưa có sự thống nhất nhưng mỗi quan điểm đều có những điểm hợp lý và bất hợp lý nhất định, tựu trung lại, có thể đưa ra khái niệm vật chứng như sau: “Vật chứng là những vật thể, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Vật chứng là một trong những hình thức tồn tại của chứng cứ, một phần chứng cứ chứng minh cho các tình tiết của vụ án được rút ra từ vật chứng. Vì vậy, từ khái niệm nêu trên cho thấy, vật chứng trong vụ án hình sự phải là thông tin, sự kiện có thật được ghi nhận và lưu giữ trong tài liệu thực tế và phải đảm bảo các thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Khi người phạm tội thực hiện tội phạm thì họ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào đối tượng này hay đối tượng khác thuộc thế giới khách quan và hoạt động đó được ghi lại, lưu giữ và phản ánh lại thông qua những môi trường, điều kiện khác nhau.
Chỉ những thông tin, sự kiện phản ánh một cách khách quan mới được xem là căn cứ xác định người phạm tội, góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Vật chứng ghi nhận chính xác những sự kiện thực tế của vụ án, có giá trị chứng minh cao, để đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, vật chứng phải có tính khách quan, nghĩa là vật chứng tồn tại độc lập trong thế giới khách quan, 2 Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Thuật ngữ Pháp lý, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, tr. 3 Trịnh Tiến Việt (2006), “Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 2003”, Tạp chí Nghề Luật, số 2, tr. 9 độc lập với ý chí của người tiến hành tố tụng.
Do đó, khi giải quyết vụ án hình sự, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng thực tế khách quan, sử dụng vật chứng để phản ánh đúng bản chất vốn có của nó, độc lập với với ý thức chủ thể tiến hành tiến hành tố tụng. Vật chứng chứa đựng và phản ánh những thông tin, sự kiện thực tế liên quan đến vụ án hình sự và nằm trong mối liên quan tổng thể giữa các nội dung, vấn đề của vụ án hình sự. Tính liên quan được thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định. Trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thu thập được nhiều tài liệu, đồ vật khác nhau nghi ngờ có liên quan đến tội phạm.
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, đánh giá một cách tổng hợp, những tài liệu nào có liên quan đến vụ án, có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội mới có thể trở thành vật chứng của vụ án. Vì vậy, để quá trình giải quyết vụ án hình sự được đảm bảo nhanh chóng và đúng pháp luật thì chủ thể tiến hành tố tụng phải xem xét vật chứng trong mối liên hệ với toàn bộ vụ án, phân tích nó với những tình tiết khác có liên quan để có cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Tính hợp pháp của vật chứng được thể hiện ở việc vật chứng được được rút ra từ nguồn chứng cứ và được thu thập, bảo quản, lưu giữ theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Một vật thể có tính khách quan và liên quan nhưng không hợp pháp sẽ không được xác định là vật chứng, do đó, cơ quan, người tiến hành tố tụng phải chú ý thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu thập, lưu giữ, bảo quản và xử lý vật chứng.
Khái niệm xử lý vật chứng Mặc dù khái niệm “xử lý vật chứng” không được pháp luật thực định đề cập, nhưng đây lại là một khái niệm pháp lý quen thuộc trong khoa học tố tụng hình sự, đã được một số bài viết, luận án và luận văn đề cập đến. Để có thể làm rõ khái niệm xử lý vật chứng trước hết cần làm rõ khái niệm “xử lý”. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì “xử lý” được biết đến là một động từ được hiểu là: “1. Tạo ra những tác động vật lý, tác động hóa học nhất định để biến đổi phù hợp với mục đích; 2.
Áp dụng vào cái gì đó những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng; 3. Xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ việc nào đó”.4 Thuật ngữ “xử lý” còn được hiểu là nhằm chỉ rõ một hoạt động nào đó phải giải quyết và hoàn thành. Trong tố tụng 4 https://vi.org/wiki/x%E1%BB%AD_l%C3%BD#Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t, truy cập ngày 15/02/2021. 10 hình sự, vật chứng là những vật gắn liền với tội phạm, vì vậy trong quá trình giải quyết các vụ án, ngoài việc phải xác định tội danh, điều luật áp dụng, quyết định hình phạt thì cơ quan, người tiến hành tố tụng còn phải xử lý những vật, tài sản liên quan đến vụ án đã xảy ra nhằm xóa bỏ điều kiện hỗ trợ cho hành vi phạm tội, khôi phục lại quyền sở hữu cho chủ sở hữu, quyền chiếm hữu cho người quản lý hợp pháp.
Với sứ mệnh quan trọng của mình trong hệ thống pháp luật Việt Nam, xử lý vật chứng luật Tố tụng hình sự được tiếp cận với tư cách là một hoạt động tố tụng hình sự, nhưng nó cũng có những đặc điểm đặc thù, quá trình thực hiện xử lý vật chứng thì người có thẩm quyền tố tụng phải có những nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật về hình thức xử lý đối với vật chứng, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự có hiệu quả, nhanh chóng và triệt để. Về nội hàm của khái niệm xử lý vật chứng, có nhiều quan điểm được đưa ra, tuy nhiên, hầu hết đều trình bày thống nhất về nội hàm của khái niệm này nhưng cách thức diễn đạt thì khác nhau. Theo Từ điển Luật học định nghĩa “Xử lý vật chứng là xem xét, giải quyết vật chứng đã thu thập được”5.